Skkn Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4

Xem 4,158

Cập nhật thông tin chi tiết về Skkn Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4 mới nhất ngày 19/04/2021 trên website Expressrotaryhotpot.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 4,158 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Luận Văn Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Đề Thi Violympic Toán Tiếng Anh Lớp 4 Vòng 9 Có Đáp Án
  • Đề Thi Tuyển Hsg Môn Toán Lớp 4 Có Đáp Án
  • Hướng Dẫn Giải Toán Lớp 4
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    VỀ GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4

    Họ và tên: Phan Thị Thanh Hà

    Đơn vị công tác: Trường tiểu học số 2 Quảng Phúc

    THÁNG 01 NĂM 2011

    11

    Phan Thị Thanh Hà

    2

    Phan Thị Thanh Hà

    Phần thứ hai

    NỘI DUNG

    I. CƠ SỞ KHOA HỌC:

    1/ Cơ sở lý luận:

    Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng

    dạy môn toán ở bậc tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một

    cách hữu cơ với nội dung của số học và số tự nhiên, các đại lượng cơ

    bản và các yếu tố đại số, hình học có trong chương trình.

    Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện

    ở các điểm sau:

    a) Các khái niệm và các quy tắc về toán trong sách giáo khoa, nói

    chung đều được giảng dạy thông qua việc giải toán. Việc giải toán

    giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính

    toán. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ

    dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức,

    kỹ năng và tư duy để giúp các em phát huy hoặc khắc phục.

    b) Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được

    thực hiện thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ

    với cuộc sống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn

    luyện những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng ngày,

    giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống.

    c) Việc giải toán góp phần quan trọng trong việc xây dựng cho học

    sinh những cơ sở ban đầu của lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản,

    thế giới quan duy vật biện chứng: việc giải toán với những đề tài thích

    hợp, có thể giới thiệu cho các em những thành tựu trong công cuộc

    xây dựng CNXH ở nước ta và các nước anh em, trong công cuộc bảo

    vệ hoà bình của nhân dân thế giới, góp phần giáo dục các em ý thức

    bảo vệ môi trường, phát triển dân số có kế hoạch v.v… Việc giải toán

    3

    4

    5

    Phan Thị Thanh Hà

    II. CÁC PHƯƠNG PHÁP DÙNG ĐỂ DẠY GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI

    VĂN:

    1/ Phương pháp trực quan:

    Nhận thức của trẻ từ 6 đến 10 tuổi còn mang tính cụ thể , gắn với

    các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức của môn

    toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao. Sử dụng phương pháp này

    giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ xung vốn hiểu biết,

    phát triển tư duy trừu tượng và vốn hiểu biết. Ví dụ: khi dạy giải toán

    ở lớp Bốn, giáo viên có thể cho học sinh quan sát mô hình hoặc hình

    vẽ, sau dó lập tóm tắt đề bài qua, rồi mới đến bước chọn phép tính.

    2/ Phương pháp thực hành luyện tập:

    Sử dụng phương pháp này để thực hành luyện tập kiến thức, kỹ

    năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp (Chủ yếu ở các tiết luyện

    tập ). Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp

    các phương pháp như: gợi mở – vấn đáp và cả giảng giải – minh hoạ.

    3/ Phương pháp gợi mở – vấn đáp:

    Đây là phương pháp rất cần thiết và thích hợp với học sinh tiểu

    học, rèn cho học sinh cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm

    tin và khả năng học tập của từng học sinh.

    4/ Phương pháp giảng giải – minh hoạ:

    Giáo viên hạn chế dùng phương pháp này. Khi cần giảng giải minh hoạ thì giáo viên nói gọn, rõ và kết hợp với gợi mở – vấn đáp.

    Giáo viên nên phối hợp giảng giải với hoạt động thực hành của học

    sinh ( Ví dụ: Bằng hình vẽ, mô hình, vật thật…) để học sinh phối hợp

    nghe, nhìn và làm.

    5/ Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng:

    6

    Phan Thị Thanh Hà

    Giáo viên sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng

    đã cho ở trong bài và mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng đó.

    Giáo viên phải chọn độ dài các đoạn thẳng một cách thích hợp để học

    sinh dễ dàng thấy được mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng tạo

    ra hình ảnh cụ thể để giúp học sinh suy nghĩ tìm tòi giải toán.

    III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI

    CÁC BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4 :

    Muốn phân tích được tình huống, lựa chọn phép tính thích hợp,

    các em cần nhận thức được: cái gì đã cho, cái gì cần tìm, mối quan hệ

    giữa cái đã cho và cái phải tìm. Trong bước đầu giải toán, việc nhận

    thức này, việc lựa chọn phép tính thích hợp đối với các em là một việc

    khó. Để giúp các em khắc phục khó khăn này, cần dựa vào các hoạt

    động cụ thể của các em với vật thật, với mô hình, dựa vào hình vẽ ,

    các sơ đồ toán học…. nhằm làm cho các em hiểu khái niệm ” gấp ” với

    phép nhân, khái niệm ” một phần … ” với phép chia” trong tương quan

    giữa các mối quan hệ trong bài toán.

    Trong một bài toán, câu hỏi có một chức năng quan trọng vì việc

    lựa chọn phép tính thích hợp được quy định không chỉ bởi các dữ kiện

    mà còn bởi các câu hỏi. Với cùng các dữ kiện như nhau có thể đặt các

    câu hỏi khác nhau do đó việc lựa chọn phép tính cũng khác nhau, việc

    thấu hiểu câu hỏi của bài toán là điều kiện căn bản để giải đúng bài

    toán đó. Nhưng trẻ em ở giai đoạn đầu khi mới giải toán chưa nhận

    thức được đầy đủ chức năng của câu hỏi trong bài toán. Để rèn luyện

    cho các em suy luận đúng, cần giúp các em nhận thức được chức năng

    quan trọng của câu hỏi trong bài toán. Muốn vậy có thể dùng biện

    pháp: thường xuyên gợi cho các em phân tích đề toán để xác định cái

    đã cho, cái phải tìm, các dữ kiện của bài toán , câu hỏi của bài toán,

    7

    Phan Thị Thanh Hà

    + Xác lập mối quan hệ giữa các điều kiện đã cho với yêu cầu của

    bài toán phải tìm và tìm được phép tính số học thích hợp.

    a) Thực hiện cách giải và trình bày lời giải bằng các thao tác:

    – Thực hiện các phép tính đã xác định ( có thể viết phép tính sau

    khi viết câu lời giải và thực hiện phép tính)

    – Viết câu lời giải.

    – Viết phép tính tương ứng.

    b) Kiểm tra bài giải:

    – Kiểm tra số liệu.

    – Kiểm tra tóm tắt.

    – Kiểm tra phép tính.

    – Kiểm tra lời giải.

    – Kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bài toán.

    *Ví dụ một bài cụ thể ở lớp 4 như sau:

    Bài toán: Một thửa ruộng hình chữ nhật có chu vi bằng chu vi

    của hình vuông có cạnh 40m. Biết rằng chiều rộng bằng 1/3 chiều dài.

    Tính diện tích của thửa ruộng đó.

    a) Tổ chức cho học sinh tìm hiểu nội dung và nhận dạng bài

    toán:

    – Đọc bài toán ( Tuỳ theo hình thức lớp học, có thể cho học

    sinh đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm…) để học sinh biết những dữ

    kiện ban đầu của bài toán.

    – Thuật ngữ ” chu vi hình chữ nhật bằng chu vi hình vuông”

    ( chu vi hình vuông cũng chính là chu vi hình chữ nhật)

    – Nhận dạng bài toán: Bài toán về tìm hai số khi biết tổng và tỉ

    số của hai số đó.

    * Nắm bắt nội dung bài toán:

    10

    Phan Thị Thanh Hà

    + Biết thửa ruộng hình chữ nhật có chi vi bằng thửa ruộng hình

    vuông cạnh 40m.

    + Chiều rộng của thửa ruộng bằng 1/3 chiều dài.

    + Tính diện tích của thửa ruộng đó.

    b) Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán:

    Tóm tắt

    Chu vi HCN = Chu vi HV cạnh 40m

    Chiều rộng = 1/3 chiều dài

    Diện tích : ? m2

    – Lập kế hoạch giải toán.

    – Xác định trình tự giải toán theo cách thông thường.

    + Muốn tính diện thửa ruộng ta làm thế nào? ( Phải biết chiều

    dài và chiều rộng của thửa ruộng )

    + Để tính chiều dài và chiều rộng ta làm thế nào? ( Tính nửa chu

    vi của thửa ruộng)

    + Muốn tính nửa chu vi? ( Phải biết chu vi của thửa ruộng hình

    chữ nhật )

    + Muốn tính chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật ta làm thế nào?

    ( tính chu vi của thửa ruộng hình vuông vì chu vi của thửa ruộng

    hình vuông chính là chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật)

    * Theo hệ thống câu hỏi phân tích trên GV yêu cầu học sinh nối

    trình tự giải của bài toán

    + Thiết lập trình tự giải:

     Tính chu vi của thửa ruộng hình vuông.

     Tính nửa chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật.

     Tìm chiều dài của thửa ruộng.

    11

    Phan Thị Thanh Hà

     Tìm chiều rộng của thửa ruộng.

     Tìm diện tích của thửa ruộng.

    + Thực hiện giải và trình bày bài giải:

    Bài giải

    Chu vi của thửa ruộng hình vuông là:

    40 x 40 = 160 (m)

    Nửa chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật là:

    160 : 2 = 80 (m)

    Ta có sơ đồ:

    Chiều dài :

    80m

    Chiều rộng :

    Tổng số phần bằng nhau là:

    3 + 1 = 4 (phần)

    Chiều dài của thửa ruộng là:

    80 : 4 x 3 = 60 (m)

    Hiều rộng của thửa ruộng là:

    80 – 60 = 20 (m)

    Diện tích của thửa ruộng hình chữ nhật là:

    60 x 20 = 1200 ( m 2 )

    Đáp số: 1200 m 2

     Giải xong yêu cầu học sinh kiểm tra lại đáp số và yêu cầu của

    bài toán xem đã phù hợp chưa, chính xác chưa.

     Học sinh có thể giải bài này với cách giải gọn hơn như sau:

    Đối với các bài toán có lời văn như trên, giáo viên nên khuyến

    khích học sinh tự nêu ra các giả thiết đã biết, cái cần phải tìm, cách

    tóm tắt bài toán và tìm đường lối giải. Các phép tính giải chỉ là khâu

    thứ yếu mang tính kĩ thuật.

    12

    Phan Thị Thanh Hà

    IV/ RÈN LUYỆN NĂNG LỰC KHÁI QUÁT, NÂNG DẦN MỨC ĐỘ

    PHỨC TẠP TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA SỐ ĐÃ CHO (ĐIỀU

    KIỆN BÀI TOÁN) VÀ SỐ PHẢI TÌM.

    – Tổ chức cho học sinh giải toán, nâng dần mức độ phức tạp trong

    mối quan hệ giữa số đã cho( điều kiện bài toán) và số phải tìm.

    – Giải bài toán có nhiều cách giải khác nhau. Làm quen với các bài

    toán thiếu hoặc thừa dữ liệu.

    – Lập và biến dổi bài toán dưới nhiều hình thức.

    – Đặt câu hỏi cho bài toán mới chỉ biết số liệu hoặc điều kiện.

    – Lập bài toán tương tự với bài toán đã giải.

    – Lập bài toán ngược với bài toán đã giải.Chẳng hạn lập bài toán

    ngược với ví dụ trên như sau: Một thửa ruộng hình chữ

    nhật có diện tích 1 200 m 2 Biết rằng chiều rộng bằng 20 m.

    Một thửa ruộng hình vuông có chu vi bằng chu vi của thửa

    ruộng hình chữ nhật. Tính diện tích thửa ruộng hình

    vuông.

    – Lập bài toán theo cách giải cho sẵn.

    – Giải toán có lời văn ở lớp 4 phần nào đã mang tính trừu tượng so

    với lứa tuổi, đòi hỏi các em phải biết quan sát, phân tích, so

    sánh, trình bày đầy đủ từng yêu cầu của từng dạng bài. Do ậy mà

    người giáo viên không ngừng tìm tòi nghiên cứu để đúc rút kinh

    nghiệm quý báu nhằm giúp các em thực hiện tốt việc giải toán có

    lời văn nối riêng và học toán nói chung ở bậc tiểu học.

    13

    Phan Thị Thanh Hà

    V/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

    Qua một thời gian nghiên cứu đề ra một số biện pháp giải toán có lời

    văn ở lớp 4 , tôi đã mạnh dạn đề xuất với Ban Giám hiệu tổ chức thực hiện

    chuyên đề toán, về phương pháp, về cách giải toán có lời văn cho học sinh

    lớp 4 đã được nâng cao và đạt hiệu quả khá tốt. Do vậy đã được triển khai

    áp dụng thực hiện ở các lớp trong khối 4.

    – Kết quả đạt được cụ thể ở lớp 4B cuối năm học 2009 -2010 như

    sau:

    Thời

    Tổng số

    gian

    học

    kiểm tra

    sinh

    Đầu năm

    30

    Cuối năm

    30

    Kết quả

    Giỏi

    Khá

    TB

    Yếu

    SL

    %

    11

    36.7

    9

    30.0

    8

    26.7

    2

    6.6

    Từ những kết quả đạt được nêu trên, tôi thấy dạy học giải toán có lời văn ở

    lớp 4 không những chỉ giúp cho học sinh củng cố vận dụng các kiến thức

    đã học, mà còn giúp các em phát triển tư duy, sáng tạo trong học toán và

    biết vận dụng thực thành vào thực tiễn cuộc sống.

    Phần thứ ba

    14

    Phan Thị Thanh Hà

    KẾT LUẬN

    Giải toán có lời văn là nội dung khá hấp dẫn đối với người dạy

    lẫn người học, nó hấp dẫn bởi các yếu tố toán học khô khan được che

    đậy bởi lời văn và tranh vẽ hấp dẫn, đa dạng, song đây cũng chính là

    nội dung khó trong chương trình toán tiểu học. Vì vậy giải toán có lời

    văn ở lớp 4 nói riêng và giải toán ở tiểu học nối chung, yêu cầu người

    giáo viên phải có sự say mê, nghiên cứu, tìm tòi, nắm vững nội dung

    từng chương, từng phần ở SGK, sách tham khảo, hiểu cốt lõi từng đơn

    vị kiến thức, cốt lõi từng đơn vị toán học. Từ đó mới hướng dẫn các

    em tường tận theo đúng quy trình các bước giải. Muốn các em có kỹ

    năng giải toán, giáo viên phải hướng dẫn các em cách phân tích bài

    toán, cách loại bỏ yếu tố bài toán theo lôgic khoa học, cách khai thác

    các từ khóa, cách nhận dạng để tìm ra cách giải nhanh, giải đúng. Để

    phát huy tính tích cực chủ động cho học sinh, giáo viên không nên áp

    dặt mà nên gợi mở để các em tự tìm ra hướng đi cho mình, giáo viên

    là trọng tài phân định đúng, sai, nhanh, chậm cho các em.

    Do vậy, việc giảng dạy toán có lời văn một cách hiệu quả giúp

    các em trở thành những con người linh hoạt, sáng tạo, làm chủ trong

    mọi lĩnh vực và trong cuộc sống thực tế hàng ngày.

    Những kết quả mà chúng tôi đã thu được trong quá trình nghiên

    cứu không phải là cái mới so với kiến thức chung về môn toán ở bậc

    tiểu học, song lại là cái mới đối với bản thân tôi. Trong quá trình

    nghiên cứu, tôi đã phát hiện và rút ra nhiều điều lý thú về nội dung và

    phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở bậc tiểu học. Tôi tự cảm

    thấy mình được bồi dưỡng thêm lòng kiên trì, nhẫn lại, sự ham muốn,

    say sưa với việc nghiên cứu.

    Trong thời gian qua, được sự giúp đỡ của ban giám hiệu nhà

    trường, đặc biệt là đồng chí phụ trách chuyên môn cùng với sự học

    15

    Phan Thị Thanh Hà

    hỏi, tìm tòi của bản thân. Tôi đã rút ra được một vài kinh nghiệm nhỏ

    để cùng bàn với các đồng nghiệp về cách dậy giải toán có lời văn ở

    lớp 4. Mong hội đồng khoa học các cấp xem xét, góp ý để đề tài được

    áp dụng rộng rãi và nâng cao hơn về mặt chất lượng.

    Quảng Phúc, ngày 25 tháng 5 năm

    2010

    Người thực hiện

    Phan Thị Thanh Hà

    16

    17

    18

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rèn Kỹ Năng Giải Bài Toán Có Lời Văn Liên Quan Đến Tỷ Số
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 4 Khắc Phục Các Lỗi Khi Thực Hiện Giải Toán Có Lời Văn
  • Đề Tài Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4
  • Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Hs Lớp 4&5 Chuyen De Giai Toan Lop 5 Doc
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4
  • Bạn đang xem bài viết Skkn Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4 trên website Expressrotaryhotpot.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!