Giải Vbt Ngữ Văn 9 Ôn Tập Truyện Lớp 9

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Tổng Kết Phần Văn Học Nước Ngoài
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Từ Đồng Nghĩa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Bài Cách Lập Ý Của Bài Văn Biểu Cảm
  • ✅ Từ Đồng Nghĩa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Số Từ Và Lượng Từ
  • Trả lời: Câu 2: Câu 2, tr. 144, SGK Trả lời:

    – Các tác phẩm đã phản ánh được một phần những nét tiêu biểu của đời sống xã hội và con người Việt Nam với tư tưởng và tình cảm của họ trong những thời kì lịch sử có nhiều biến cố lớn lao, từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chủ yếu là trong hai cuộc kháng chiến

    + hoàn cảnh đất nước: hình ảnh một Việt Nam gian khổ kháng chiến, một Việt Nam kiên cường, bất khuất đoàn kết kháng chiến.

    + hình ảnh con người: mang lòng yêu nước mãnh liệt, tinh thần chiến đấu vì độc lập, tự do vượt mọi gian khổ, hi sinh, trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh, tình cảm giữa con người với con người, giữa con người với quê hương đất nước lại càng sâu săc, mãnh liệt

    Câu 3. Hình ảnh các thế hệ con người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ được miêu tả qua các nhân vật nào? Phẩm chất nổi bật ở họ là gì? Trả lời:

    – Hình ảnh các thế hệ con người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ được miêu tả qua các nhân vật: ông Hai (Làng), người thanh niên (Lặng lẽ Sa Pa), ông Sáu và bé Thu (Chiếc lược ngà), ba cô gái thanh niên xung phong (Những ngôi sao xa xôi)

    – Phẩm chất nổi bật ở họ là: lòng yêu nước, yêu quê hương sâu sắc, sẵn sàng hi sinh mọi thứ cho cách mạng, cho tổ quốc.

    Câu 4: Câu 5, tr. 145, SGK Trả lời:

    – Các tác phẩm truyện ở lớp 9 được trần thuật theo ngôi kể thứ ba và thứ nhất

    – Các truyện có nhân vật trực tiếp xuất hiện: Chiếc lược ngà, Cố hương, Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, Những ngôi sao xa xôi, Những đứa trẻ

    – Cách trần thuật như thế có ưu điểm: giúp nhân vật bộc lộ tâm tư, tình cảm của nhân vật một cách rõ ràng và trực quan nhất, giúp người đọc hiểu rõ tâm tư tình cảm nhân vật hơn

    Câu 5: Ở những truyện nào tác giả sáng tạo được tình huống truyện đặc sắc? Nêu và phân tích tình huống ấy? Trả lời:

    – Các truyện có tình huống truyện đặc sắc: Làng, Chiếc lược ngà, Bến quê

    – Phân tích tình huống truyện trong truyện Bến quê

    + tình huống đầy nghịch lí: Nhĩ – nhân vật chính – từng đi khắp mọi nơi trên trái đất, về cuối đời mắc trọng bệnh lại bị cột chặt vào chiếc giường, đến nỗi anh không thể tự mình dịch chuyển được, tất cả mọi hoạt động đều phải nhờ vào sự trợ giúp của người khác, chủ yếu là người vợ (Liên)

    + từ tình huống nghịch lí ấy lại dẫn đến một tình huống nghịch lí thứ hai: Khi Nhĩ phát hiện thấy vẻ đẹp lạ lùng của cái bãi bồi bên kia sông, dù biết mình không bao giờ có thể nhưng anh vẫn khát khao được đặt chân lên cái bãi bồi ấy, anh đã nhờ con trai của mình thực hiện cái khát vọng đó. Nhưng rồi cậu ta lại sa vào một đám cờ bên hè phố và có thể làm lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày

    → Tác giả đặt nhân vật vào tình huống hiểm nghèo, giữa ranh giới của sự sống và cái chết để soi vào tâm trạng, nghĩ suy và sự chiêm nghiệm của nhân vật để đem đến cho người đọc một nhận thức về cuộc sống: cuộc đời và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, những nghịch lí, ngẫu nhiên, những điều vòng vèo, chùng chình, những lãng quên, vô tình mà phải đến cuối đời có khi người ta mới nhận ra được

    Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 9 (VBT Ngữ Văn 9) khác:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Cầu Khiến Sbt Văn Lớp 8 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Trang 24
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 8 Bài 21: Câu Trần Thuật
  • Soạn Bài Câu Phủ Định Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Khởi Ngữ Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2
  • Khởi Ngữ Là Gì, Tác Dụng Và Nêu Ví Dụ Dễ Hiểu (Ngữ Văn 9)
  • Vở Bài Tập Ngữ Văn Lớp 9 (Tập 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Phần Giới Hạn (Kèm Lời Giải)
  • Hocthue.net: Tổng Hợp Sách, Giáo Trình, Bài Giảng, Bài Tập Xác Suất Thống Kê (Có Lời Giải)
  • Bài Tập Ôn Luyện Lập Trình Oop & Interface
  • Bài Tập Tự Luận Java Cơ Bản Có Lời Giải
  • Bài Tập Câu Lệnh Điều Kiện Switch Case
  • Vở Bài Tập Ngữ Văn Lớp 9 (Tập 1)

    Để phát huy tính chủ động trong việc học, bên cạnh sự có mặt của giáo viên, các loại tài liệu tham khảo cũng đóng vai trò hết sức quan trọng và cần thiết, đặc biệt là với môn học đòi hỏi sự nhạy bén, tinh tế như môn Văn.

    Cuốn Vở Bài Tập Ngữ Văn Lớp 9 (Tập 1) được biên soạn bám sát nội dung sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9. Sách gồm các bài tập Ngữ Văn đa dạng có gợi ý làm bài cụ thể nhằm giúp các em có thể tự học tốt môn Ngữ văn một cách chủ động, sáng tạo.

    Sách bao gồm 17 bài học với các nội dung:

    – Thực hành phần Đọc – hiểu văn bản các văn bản văn học.

    – Thực hành Tiếng Việt thông qua các bài tập dưới hình thức bảng biểu và điền vào chỗ trống.

    – Thực hành các thao tác kĩ năng lập luận , diễn đạt và tạo lập thành văn bản ở phần Tập làm văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ma Trận Space Phân Tích Môi Trường Và Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Ma Trận Ge Là Gì ?
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 7
  • Giáo Trình Thương Mại Quốc Tế
  • Giáo Án Lớp 5
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Thuật Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Tôi Đi Học (Ngắn Nhất)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Trường Từ Vựng
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Lão Hạc
  • Giải Bài 1,2,3, 4,5 Trang 91 Sgk Hóa 8: Oxit
  • Bài 1,2,3, 4,5 Trang 87 Sgk Hóa Học 9: Các Oxit Của Cacbon
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Câu 1 (trang 45 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Điền các thuật ngữ khoa học vào chỗ trống thích hợp:

    – (…) là tác dụng đẩy, kéo của vật này lên vật khác (Vật lí).

    – (…) là toàn bộ các quá trình phá hủy lớp đất đá phủ trên mặt đất do các tác nhân: gió, băng hà, nước chảy… (Địa lí)

    – (…) là hiện tượng trong đó có sinh ra chất mới (Hóa học).

    – (…) là tập hợp tất cả các từ có nét chung về nghĩa (Ngữ văn).

    – (…) là nơi có dấu vết cư trú và sinh sống của người xưa (Lịch sử).

    – (…) là hiện tượng hạt phấn tiếp xúc với đầu nhụy (Sinh học).

    – (…) là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở mộ điểm nào đó, trong một giây đồng hồ. Đơn vị đo: m 3/s (Địa lí).

    – (…) là lực hút của Trái Đất (Vật lí)

    – (…) là sức ép của khí quyển lên bề mặt Trái Đất (Địa lí).

    – (…) là những chất do một nguyên tố hóa học cấu tạo nên (Hóa học).

    – (…) là thị tộc theo dòng họ người cha, trong đó nam có quyền hơn nữ (Lịch sử)

    – (…) là đường thẳng vuông góc với một đoạn tại điểm giữa của đoạn ấy (Toán học).

    Phương pháp giải:

    Chú ý các thuật ngữ phải phù hợp với khái niệm. Ví dụ câu a: Lực là tác dụng đẩy, kéo của vật này lên vật khác. Lực là thuật ngữ thuộc khoa học Vật lí.

    Lời giải chi tiết:

    – Lực là tác dụng đẩy, kéo của vật này lên vật khác (Vật lí).

    – Xâm thực là toàn bộ các quá trình phá hủy lớp đất đá phủ trên mặt đất do các tác nhân: gió, băng hà, nước chảy… (Địa lí)

    – Hiện tượng hóa học là hiện tượng trong đó có sinh ra chất mới (Hóa học).

    – Trường từ vựng là tập hợp tất cả các từ có nét chung về nghĩa (Ngữ văn).

    – Di chỉ là nơi có dấu vết cư trú và sinh sống của người xưa (Lịch sử).

    – Thụ phấn là hiện tượng hạt phấn tiếp xúc với đầu nhụy (Sinh học).

    – Lưu lượng là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở mộ điểm nào đó, trong một giây đồng hồ. Đơn vị đo: m 3/s (Địa lí).

    – Trọng lực là lực hút của Trái Đất (Vật lí).

    – Khí áp là sức ép của khí quyển lên bề mặt Trái Đất (Địa lí).

    – Đơn chất là những chất do một nguyên tố hóa học cấu tạo nên (Hóa học).

    – Thị tộc phụ hệ là thị tộc theo dòng họ người cha, trong đó nam cc quyền hơn nữ (Lịch sử).

    – Đường trung trực là đường thẳng vuông góc với một đoạn tại điểm giữa của đoạn ấy (Toán học).

    Câu 2 Câu 2 (trang 46 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Trong đoạn trích này, điểm tựa có được dùng như một thuật ngữ vật lí hay không? Ở đây có ý nghĩa gì?

    Nếu được làm hạt giống để mùa sau Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa Vui gì hơn làm người lính đi đầu Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa! Phương pháp giải:

    Em chú ý: điểm tựa là thuật ngữ Vật lí nhưng ở đây nó được dùng với nghĩa bóng là chỗ dựa cho lịch sử.

    Lời giải chi tiết:

    – Trong đoạn trích này, điểm tựa không được dùng như một thuật ngữ.

    – Ở đây, điểm tựa chỉ nơi làm chỗ dựa chính (ví như điểm tựa của đòn bẩy).

    Câu 3 Câu 3 (trang 46 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Cho biết hai câu sau đây, trường hợp nào hỗn hợp được dùng như một thuật ngữ, trường hợp nào hỗn hợp được dùng như một từ ngữ thông thường.

    a. Nước tự nhiên ở ao, hồ, sống, biển,… là một hỗn hợp.

    b. Đó là một chương trình biểu diễn hỗn hợp nhiều tiết mục.

    Hãy đặt câu với từ hỗn hợp dùng theo nghĩa thông thường.

    Phương pháp giải:

    Em chú ý xem câu nào dùng thuật ngữ chuyên môn, câu nào dùng từ thông thường. Sau đó đặt hai câu với từ hỗn hợp dùng theo nghĩa thông thường.

    Lời giải chi tiết:

    – Trong trường hợp (a), từ hỗn hợp được dùng như một thuật ngữ.

    – Trong trường hợp (b) từ hỗn hợp được dùng như một từ thông thường.

    Câu 4 Câu 4 (trang 46 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Căn cứ vào cách xác định của sinh học, hãy định nghĩa thuật ngữ cá. Có gì khác nhau giữa nghĩa của thuật ngữ này với nghĩa của từ cá theo cách hiểu thông thường của người Việt?

    Phương pháp giải:

    Xem lại định nghĩa về cá trong từ điển hoặc trong sách Sinh học: Cá là loài động vật có xương sống ở nước, thở bằng mang, bơi bằng vây. Việc cá voi, cá heo không thở bằng mang mà thở bằng phổi chứng tỏ chúng không phải là cá theo thuật ngữ sinh học. Từ đó, trả lời câu hỏi.

    Lời giải chi tiết:

    – Thuật ngữ cá của sinh học : động vật có xương sống, sống ở dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang.

    – Theo cách hiểu thông thường của người Việt cá không nhất thiết phải thở bằng mang.

    Câu 5 Câu 5 (trang 46 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Trong kinh tế học, thuật ngữ thị trường chỉ nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hóa , còn trong quang học, thuật ngữ thị trường chỉ phần không gian mà mắt có thể quan sát được.

    Hiện tượng đồng âm này có vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm đã nêu ở phần Ghi nhớ không? Vì sao?

    Phương pháp giải:

    Cần lưu ý: thuật ngữ được dùng trong một lĩnh vực khoa học . Trường hợp này là sự đồng âm của hai thuật ngữ ở hai lĩnh vực khoa học khác nhau. Vì thế hiện tượng này có vi phạm nguyên tắc hay không?

    Lời giải chi tiết:

    – Hiện tượng đồng âm giữa thuật ngữ thị trường của kinh tế học và thuật ngữ thị trường của quang học không vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm.

    – Vì đây là hai thuật ngữ được sử dụng trong hai lĩnh vực khác nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Từ Mượn
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Nghĩa Của Từ
  • Bt Nhị Thức Newton Cực Hay Có Lời Giải Nhi Thuc Nuiton Doc
  • Bt Nhị Thức Newton Cực Hay Có Lời Giải
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Tôi Đi Học
  • Giải Soạn Bài Khởi Ngữ Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sang Thu Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Sang Thu Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt
  • Soạn Bài Kiểm Tra Phần Tiếng Việt
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Ngắm Trăng
  • Giải câu 1, 2, 3, 4 trang 5 SBT Ngữ Văn 9 tập 2. Trong lời nói của Nhuận Thổ sau đây, câu nào có chứa khởi ngữ ? Hãy chuyển từ làm khởi ngữ đó vào một vị trí thích hợp khác trong câu.

    1. Bài tập 1, trang 8, SGK.

    a) Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Điều này ông khổ tâm hết sức.

    b) – Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.

    c) Một mình thì anh bạn trên trạm đỉnh Phan-xi-păng ba nghìn một trăm bốn mươi hai mét kia mới một mình hơn cháu.

    d) Làm khí tượng, ở được cao thế mới là lí tưởng chứ.

    Trả lời:

    Để tìm được thành phần khởi ngữ, cần đọc kĩ phần Ghi nhớ (trang 8, SGK) và thực hiện các việc sau đây :

    – Tìm chủ ngữ, vị ngữ của câu. Nên tìm vị ngữ trước. Từ vị ngữ sẽ tìm được chủ ngữ : chủ ngữ là thành phần chính nêu tên sự vật hiện tượng có hoạt động, đặc điểm, trạng thái được miêu tả ở vị ngữ. Ví dụ : trong câu “Điều này ông khổ tâm hết sức. ” vị ngữ là cụm từ khổ tâm hết sức, còn chủ ngữ là từ ông.

    – Xem trong câu có từ hoặc cụm từ nào đứng trước chủ ngữ không. Ví dụ, trong câu “Điều này ông khổ tâm hết sức.” có một cụm từ đứng trước chủ ngữ .

    – Xem từ hoặc cụm từ đứng trước chủ ngữ có nêu lên đề tài được nói đến trong câu không. Nếu từ, cụm từ có nêu lên đề tài được nói đến trong câu thì đó là khởi ngữ.

    – Xem trước từ, cụm từ ấy có hoặc có thể thêm các quan hệ từ không. Nếu từ, cụm từ ấy có hoặc có thể thêm các quan hệ từ , được thì đó là khởi ngữ. Tuy nhiên, đây không phải là dấu hiệu bắt buộc phải có đối với khởi ngữ mà chỉ là một dấu hiệu thường gặp. Cũng có trường hợp khởi ngữ không có dấu hiệu này.

    2. Bài tập 2, trang 8, SGK.

    Hãy viết lại câu sau bằng cách chuyển phần in đậm thêm khởi ngữ:

    a) Anh ấy làm bài cẩn thận lắm.

    b) Tôi hiểu rồi nhưng tôi vẫn chưa giải được.

    Trả lời:

    Để trở thành khởi ngữ, phần in đậm cần được chuyển lên trước chủ ngữ.

    3. Trong hai câu cho sau đây câu nào chứa khởi ngữ và khởi ngữ là những từ ngữ nào ?

    Thế gian có biết bao người đọc sách chỉ để trang trí bộ mặt, như kẻ trọc phú khoe của, chỉ biết lấy nhiều làm quý. Đối với việc học tập, cách đọc đó chỉ là lừa mình dối người, đối với việc làm người thì cách đọc đó thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém.

    (Chu Quang Tiềm, Bàn về đọc sách)

    Trả lời:

    Trong bài tập có một câu ghép chứa hai khởi ngữ.

    4. Trong lời nói của Nhuận Thổ sau đây, câu nào có chứa khởi ngữ ? Hãy chuyển từ làm khởi ngữ đó vào một vị trí thích hợp khác trong câu.

    Anh Nhuận Thổ nói :

    – Lạy cụ ạ ! Thưa cụ con đã nhận được, /…/

    (Lỗ Tấn, Cố hương)

    Trả lời:

    Trong bài tập có một câu chứa khởi ngữ. Chỉ có thể chuyển từ làm khởi ngữ vào một vị trí thích hợp là ở sau cụm động từ làm vị ngữ ; khi đó, nó trở thành một bộ phận của cụm động từ này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Soạn Bài Lựa Chọn Trật Tự Từ Trong Câu Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Quê Hương Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Hội Thoại Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Vượt Thác Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Vượt Thác Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Văn Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chương Trình Địa Phương (Phần Tiếng Việt)
  • Hãy Giải Thích Nhan Đề Và Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Đồng Chí
  • Viết Đoạn Văn Tổng Phân Hợp Trình Bày Cảm Nhận Của Em Về Ba Câu Thơ Cuối Bài Thơ “đồng Chí” Của Chính Hữu
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 5
  • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo) Sách Bài Tập Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn bài Thuật Ngữ lớp 9

    Bài làm I. Thuật ngữ là gì?

    Câu 1: So sánh hai cách giải thích sau đây về nghĩa của từ nước và từ muối.

    – a, Có thể nhận thấy được chính cách giải thích thứ nhất chỉ dừng lại ở những việc nên đặc tính bên ngoài của sự vật. Và đó được xem là cách giải thích hình thành trên cơ sở kinh nghiệm và lại có tính chất cảm tính.

    – b, Ngay ở cách giải thích thứ hai này cũng đã lại được thể hiện được đặc tính bên trong của sự vật. Ta nhận thấy được chính những đặc tính này phải qua nghiên cứu bằng lí thuyết cùng với phương pháp khoa học.

    – Thạch nhũ: Chính là thuật ngữ bộ môn Địa lí

    – Bazơ: thuật ngữ của bộ môn Hoá học

    – Ẩn dụ: thuật ngữ của bộ môn Ngữ văn

    – Phân số thập phân: Chính là thuật ngữ môn Toán học.

    Câu 1: Thử tìm xem những thuật ngữ dẫn trong mục 1.2 ở trôn còn có nghĩa nào khác không?

    Ở trong mỗi lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, công nghệ thì ta đều nhận thấy được mỗi thuật ngữ dường như cũng chỉ biểu thị bằng một khái niệm và ngược lại. Cứ mỗi khái niệm lại có thể chỉ được biểu thị bằng một thuật ngữ. Nhờ đặc điểm này phù hợp với yêu cầu về tính chính xác, hơn nữa lại mang được một sự thống nhất, tính quốc tế của khoa học, kĩ thuật và cả công nghệ.

    Câu 2: Cho biết trong hai ví dụ sau, ở ví dụ nào, từ muối có sắc thái biểu cảm.

    a) Muôi là một hợp chất có thể hoù tan trong nước.

    b) Tay nâng chén muối đĩa gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng quen nhau. (Ca dao)

    Nhận xét ta thấy được: Muối ở trường hợp (b) lại được dùng theo phong cách văn bản nghệ thuật, chính vì thế mà từ “muối” ở đây cũng lại mang được sắc thái biểu cảm. Còn đối với muối ở trường hợp (a) là thuật ngữ nó được dùng theo ngôn ngữ khoa học và càng không mang sắc thái biểu cảm.

    Câu 1: Vận dụng kiến thức đã học ở các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Toán học, Vật lí, Hoá học, Sinh học để tìm thuật ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống. Cho biết mỗi thuật ngữ vừa tìm được thuộc lĩnh vực khoa học nào.

    – Lực: Chính là tác dụng đẩy kéo của vật này lên vật khác (Vật lý)

    – Xâm thực: Được hiểu là quá trình phá hủy lớp đất đá phủ trên mặt đất, nó do các tác nhân có thể được kể đển như gió, sóng biển, băng hà hay nước chảy… (Địa lý)

    – Hiện tượng hóa học: Được hiểu là hiện tượng sinh ra chất mới. (Hóa học)

    – Di chỉ: Chính là những dấu vết của người xưa mà đã cư trú và sinh sống (Lịch sử).

    – Thụ phấn: Được coi là hiện tượng hạt phấn tiếp xúc với nhị hoa (Sinh học).

    – Lưu lượng: Hiểu là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một điểm nào đó, ở ngay trong một giây đồng hồ (Địa lí).

    – Trọng lực: Chính là lực hút của trái đất (Địa lý)

    – Khí áp: Được hiểu là sức nén của khí quyển lên bề mặt trái đất (Địa lý)

    – Thị tộc phụ hệ: Được xem chính là những dòng họ trong đó người đàn ông lại luôn luôn có quyền hơn người phụ nữ.

    – Đường trung trực: Chính là đường thẳng vuông góc với một đoạn thẳng tại điểm giữa đoạn ấy (Toán học).

    Câu 2: Đọc đoạn trích sau đây: Nếu được lùm hạt giống để mùa sau Nếu lịch sử chọn ta lùm điểm tựa Vui gì hơn làm người lính đi đầu Trong đêm tối, tim ta là ngọn lửa! (Tố Hữu, Chào xuân 67) Trong đoạn trích này, điểm tựa có đưực dùng như một thuật ngữ Vật lí hay không? Ở đây, nó có ý nghĩa gì?

    “Điểm tựa” mặc dù có nét nghĩa nào đó giống với thuật ngữ cùng tên điểm tựa trong Vật lí (trong vật lí thì điểm tựa được hiểu là điểm cố định của một đòn bẩy, thông qua đó mà chính lực tác động được truyền tới lực cản; Ta nhận thấy được ở đoạn thơ này, điểm tựa thực sự cũng lại có được ý nghĩa chính là một chỗ dựa tin tưởng, gánh trọng trách) Thế nhưng từ điểm tựa ở đây không được dùng với tư cách là một thuật ngữ Vật lí, mà thuật ngữ này lại được dùng với tư cách là ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo.

    Câu 3: Trong hoá học, thuật ngữ hỗn hợp được định nghĩa là “nhiều chất trộn lẫn vào nhau mà không hoá hợp thành một chất khác”, còn từ hỗn hợp hiểu theo nghĩa thông thường là “gồm có nhiều thành phần trong dó mỗi thành phần vẫn không mất tính chất riêng của mình”. Cho biết trong hai câu sau đây, trường hợp nào hỗn hợp dưực dùng như một thuật ngữ, trường hợp nào hỗn hợp dược dùng như một từ thông thường.

    a) Nước tự nhiên ở ao, hồ, sông, biển,… là một hỗn hợp.

    b) Dó là một chương trình biểu diễn hỗn hợp nhiều tiết mục. Hãy đặt câu với từ hỗn hợp dùng theo nghĩa thông thường.

    – Nhận thấy được chính từ hỗn hợp trong câu (a) lại được dùng với tư cách thuật ngữ hoá học.

    – Từ hỗn hợp trong câu (b) thì cũng lại được dùng như một từ ngữ thông thường.

    VD: Trộn lẫn tinh bột nghệ với sữa tươi, pha thêm một chút mật ong cho đến khi được một hỗn hợp dẻo, lúc đó dùng để đắp lên mặt. (ý nghĩa thông thường)

    Câu 4: Trong sinh học, cá voi, cá heo được xếp vào lớp thú, vì tuy những động vật này có xương sống, ở dưới nước, bơi bằng vây nhưng không thở bằng mang mà thở bằng phổi.

    Căn cứ vào cách xác dịnh của sinh học, hãy định nghĩa thuật ngữ cá. Có gì khác nhau giữa nghĩa của thuật ngữ này với nghĩa của từ cá theo cách hiểu thông thường của người Việt (thể hiện qua cách gọi cú voi, cá heo)?

    Cá: chính là động vật có xương sống, ở dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang. Như vậy, ta có thể nhận xét thấy được ở trong ngôn ngữ thông thường của chúng ta thì từ cá (cá voi, cá heo) đều không mang ý nghĩa chặt chẽ như định nghĩa của sinh học được đưa ra.

    Câu 5: Trong kinh tế học, thuật ngữ thị trường (thị: chợ – yếu tố Hán Việt) chỉ nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hoá, còn trong quang học (phân ngành vật lí nghiên cứu về ánh sáng và tương tác của ánh sáng vơi vật chất), thuật ngữ thị trường (thị: thây – yếu tố Hán Việt) chỉ phần không gian mà mắt có thể quan sát được.

    Hiện tượng đồng âm này có vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm đã nêu ở phần Ghi nhớ không? Vì sao?

    Ta nhận thấy được chính một trong những ý nghĩa cơ bản của thuật ngữ thị trường của Kinh tế học (thị: chợ – yếu tố Hán Việt) còn chính là chỉ nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hoá. Thế nhưng ta hiểu được thuật ngữ thị trường (thị: thấy – yếu tố Hán Việt) của Vật lí dường như cũng lại khác hẳn: đó cũng chỉ là phần không gian mà mắt có thể quan sát được mà thôi.

    Nhận xét ta nhận thấy được chính hiện tượng trên là hiện tượng đồng âm khác nghĩa vẫn thấy trong ngôn ngữ. Nó chỉ vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm khi thuộc cùng một lĩnh vực chuyên môn. Thế rồi chính trong những lĩnh vực khoa học, kĩ thuật cũng như ở trong các ngành công nghệ khác nhau, có thể có biết bao nhiêu từ ngữ giống nhau về âm nhưng lại là những thuật ngữ mà trong đó nó chứa được rất nhiều nội hàm khác nhau hoàn toàn.

    Chúc các em học tốt!

    Minh Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Thuật Ngữ (Chi Tiết)
  • Giáo Án Văn 9 Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng
  • Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Sự Phát Triển Của Từ Vựng
  • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 9: Viết Bản Tập Làm Văn Số 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 9: Thứ Tự Kể Trong Văn Bản Tự Sự
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 5: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Bài 5 Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9 SGK

    Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2

    . Đây là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo

    Viết bản tập làm văn số 2

    Đề 1: Kể một việc tốt mà em đã làm.

    Đề 2: Kể về một lần em mắc lỗi.

    Đề 3: Kể về một thầy giáo hay một cô giáo mà em quý mến.

    Đề 4: Kể về một kỉ niệm hồi thơ ấu làm em nhớ mãi.

    Đề 5: Kể về một tấm gương tốt trong học tập hay trong việc giúp đỡ bạn bè mà em biết.

    Đề 1: Hãy kể lại một việc làm khiến bố mẹ em vui lòng.

    Bài làm

    Từng ngày, từng ngày trôi qua, mỗi ngày đều đem đến những điều kì thú. Trong những ngày ấy, có biết bao điều vui buồn, hờn giận. Nhưng có lẽ nếu nói đến điều đặc biệt nhất của một ngày đối với tôi thì đó là niềm vui. Và trong cuộc sống đầy sắc màu này, niềm vui của bố mẹ tôi là tất cả, tất cả đều ý nghĩa đối với tôi. Thế nên, tôi xin kể lại một việc làm khiến bố mẹ tôi vui lòng trong tuần vừa rồi.

    Ngày hôm ấy, như mọi lần, tôi lại tung tăng chân sáo tới trường. Từng cơn gió nhè nhẹ, mang không khí se lạnh của mùa đông, tạo nên những âm thanh huyền diệu; tiếng lá cây xào xạc, tiếng áo người đi xe bay phần phật. Nghe sao giống tiếng hát mượt mà của chị gió đang dẫn đường cho bác mùa đông già nua, khó tính. Trong cảnh sắc mờ hơi sương, không khí trong lành đến lạ thường, tôi đang nghĩ về những tấm gương tốt mà tôi đã được đọc trên báo thì bỗng có tiếng khóc nhỏ thút thít ở đâu đó lọt vào “giác quan thứ 6” của tôi. Nhìn quanh quẩn, cuối cùng tôi cũng nhìn thấy một em bé khoảng 4 tuổi đang đứng khóc một mình. Tôi nghĩ ngay rằng: “Chắc em bé này bị lạc”. Tôi lại gần em hỏi:

    – Em bị lạc mẹ à?

    Em khóc nấc lên nghẹn lời:

    – Chị ơi… Em muốn. Em muốn mẹ em. Hu… hu… mẹ ơi! Mẹ ơi!

    Tôi nhẹ nhàng vuốt tóc em bé:

    Em bé không nói chỉ gật đầu, tay gạt nước mắt. Tôi mỉm cười thân thiện rồi rút khăn tay ra, lau nước mắt cho em nhỏ.

    Em bé mỉm cười hồn nhiên:

    – Vâng ạ!

    Bổng tôi khựng lại: “Chết rồi, chỉ còn 10 phút nữa là vào lớp rồi. Làm sao đây?”. Tôi đắn đo, nếu dắt em bé đi tìm mẹ thì sẽ bị muộn học nhưng chẳng lẽ lại bỏ em ở đây. Suy nghĩ một lát tôi quyết định đưa em đến đồn công an để các chú ấy tìm mẹ cho em. Thế là, tôi dẫn em bé đến đồn công an.

    Chú công an mỉm cười:

    – Có chuyện gì vậy cháu bé?

    – Dạ thưa chú – Tôi đáp – Cháu đi học thì gặp em bé này bị lạc mẹ ạ!

    Chú công an ngạc nhiên:

    – Vậy, cháu gặp em bé này ở đâu?

    – Dạ, cháu gặp em ở đường cái ạ!

    – Ủa, vậy chắc người phụ nữ vừa đến hỏi con mình là mẹ của đứa bé này rồi. Vì lời báo của chị ta trùng với của cháu mà. Thôi được rồi, cháu để em bé lại đây. Chú sẽ thông báo để ta đón con về.

    – Dạ vâng, thôi cháu chào chú ạ! Nói rồi tôi chạy vội ra ngoài thật nhanh để còn kịp giờ học.

    Trên đường về nhà, tôi luôn mừng thầm vì mình đã làm được một việc tốt. Vừa đến cổng, tôi chạy nhanh vào lòng mẹ, tôi thì thào kể lại chuyện sáng nay. Mẹ tôi mừng rỡ hôn vào trán tôi:

    – Ôi, con mẹ giỏi quá!

    Từ ngoài cửa, bố tôi bước vào xoa đầu tôi:

    – Tốt lắm con gái. Bố tự hào về con. Con đã làm được một việc rất tốt, đáng khen ngợi. Hôm đó, nhà tôi tràn ngập tiếng cười vui. Nhìn bố mẹ cười nói vui vẻ, tôi rất vui bằng một việc làm tuy bé nhỏ nhưng đã đem lại nụ cười hạnh phúc cho bố mẹ.

    Trần Phương Ly

    (Theo Giang Khắc Bình, Nguyễn Thế Hà. 162 bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6)

    Hôm đó, tôi dậy sớm để đánh răng rửa mặt chuẩn bị đi học. Hàng sáng, mẹ tôi thường để chảo cơm trên bếp, sao hôm nay lại chẳng thấy đâu. Tôi lên hỏi mẹ: “Mẹ ơi sao mẹ vẫn chưa rang cơm cho bọn con ăn hả mẹ?”. Mẹ nhẹ nhàng nói: “Hôm nay nhà mình hết tiền mua gạo, phải đợi tiền lương của bố và chị con, hay con chịu khó bỏ ăn sáng một buổi có làm sao đâu?”. Tôi bực mình dậm chân dậm tay tỏ vẻ không bằng lòng. Tôi thoáng nhìn thấy nét mặt mẹ rất buồn. Mẹ bảo: “Thôi đi học đi con, mẹ phải đi làm việc của mẹ”. Tôi tức quá phát khóc lên, bỏ cả cặp sách lên giường ngủ tiếp. Tôi không nhớ là hôm nay có bài để chuẩn bị cho tiết kiểm tra ngày mai, thú thực lúc đấy tôi rất bực nên chỉ vì chuyện nhỏ mà quên hết mọi thứ. Tôi chỉ khóc và lẳng lặng lấy chăn ra đắp. Lúc mẹ tôi đánh răng rửa mặt xong mẹ lên nhà khoá cửa để đi làm, mẹ có biết đâu là tôi ở trong nhà. Thế là tôi nằm trong chăn ấm áp, chiếc chăn ru tôi vào giấc ngủ êm đềm. Đến khi thức dậy thì đã quá muộn. Tôi giật mình, bổ chổng bổ choảng vùng dậy thì chao ôi, cửa nhà đã khoá. Tôi ngồi trong nhà kêu ầm ĩ lên nhưng vô hiệu, mọi người đều đi làm hết. Nhà tôi là nhà tập thể, xung quanh lúc đó chỉ có mấy đứa trẻ con. Tôi gọi chúng và bảo: “Các em giúp chị mở cửa ra với”. Một đứa nhanh nhảu nói: “Thế chìa khoá nhà chị để đâu thì chúng em mới mở được chứ!”.

    Tôi đứng ngẩn người ra, quay lại nhìn đồng hồ thì thấy đã mười giờ rưỡi. Bụng tôi lúc này như có móng tay sắc nào cào vào. Mắt tôi hoa lên vì đói. Tôi lục hết mọi thứ trong nhà xem có cái gì ăn không, nhưng vô hiệu, chả có gì cả. Tôi nhìn ra ô cửa sổ thì thấy bạn Lan nhà bên bảo: “Nguyệt ơi sao hôm nay bạn không đi học? Thầy giáo phê bình bạn đấy”. Tôi liền nói: “Lan ơi, hôm nay có bài nào không cho tớ mượn để tớ chép?”. Lan rút trong cặp ra đưa cho tôi bài chuẩn bị cho tiết kiểm tra. Tôi học vẹt được vài bài nhưng không chịu nổi cơn đói. Vừa hay lúc đó mẹ tôi về bảo: “Ôi, sao hôm nay con không đi học?”. Tôi bảo: “Mẹ nhốt con trong nhà thì làm sao con đi được”. Mẹ bảo: “Mẹ không biết, cho mẹ xin lỗi”. Rồi mẹ rút trong túi ra gói mì. Tôi không kịp bỏ vào bát mà vơ lấy vơ để ăn sống. Mẹ tôi ngồi nhìn tôi ăn, chảy cả nước mắt. Tôi nhìn mẹ tôi cũng cảm thấy mẹ không có lỗi trong chuyện này mà chính là mình đã làm cho mẹ lo. Sáng hôm sau đi học, tôi cố gắng làm bài kiểm tra một tiết, may sao được 5 điểm. Tôi ngượng quá, đấy là mình còn lớp phó học tập mà điểm kém như thế. Tôi rất ân hận vì đã làm đau lòng mẹ, và phí công thầy cô đã bỏ sức ra để dạy tôi, tôi rất ân hận và tôi hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa.

    Nguyễn Thị Như Nguyệt

    (Theo Nguyễn Trọng Hoàn, Hà Thanh Tuyền. 162 Bài văn chọn lọc dành cho học Sinh lớp 6)

    Đề 3: Hãy kể về một thầy (cô) giáo mà em quý mến. Bài làm

    Có những lúc tôi chợt nhớ đến quá khứ. Trong đôi mắt thơ dại của tôi, cuộc đời là một khúc hát du dương trầm bổng cứ trôi đi mãi, chỉ để lại trong tôi những kỉ niệm buồn vui. Và tôi nhớ tới các thầy, các cô giáo đã từng dạy dỗ, dìu dắt tôi. Trong số đó có một cô giáo rất dịu dàng và cũng là người mẹ thứ hai của tôi, đó là cô Huế, dạy tôi hồi lớp bốn.

    Cứ mỗi sớm mai tới trường, tôi đã thấy cô đứng đó với chiếc áo dài màu xanh tự lúc nào. Cô luôn đến sớm để đón chúng tôi với nụ cười trên môi. Cô hai mươi tám tuổi nhưng trông cô còn rất trẻ. Mái tóc dài óng ả được cô khéo léo cặp ra đằng sau, để lộ khuôn mặt trái xoan duyên dáng và phúc hậu. Đôi mắt to, trong sáng, luôn mở to dưới cặp lông mày lá liễu, nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến và độ lượng. Chiếc mũi tuy không cao nhưng rất phù hợp với khuôn mặt của cô. Đôi môi đỏ thắm, mỏng như cánh hoa hồng, luôn nở nụ cười duyên dáng với hàm răng trắng bóng. Cô có dáng người thanh mảnh và những bước đi nhanh nhẹn. Tính cô thẳng thắn, nghiêm nghị nhưng cũng rất vui vẻ. Cô luôn tận tâm, tận lực, luôn dìu dắt, chỉ mong sao mai sau chúng tôi sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Trong giờ học, những bạn nào không chú ý lắng nghe, ưa nhìn ra ngoài hay gục mặt xuống bàn là cô nhắc nhở ngay, có khi còn bắt đứng lên nhắc lại lời cô giảng hay ý kiến phát biểu xây dựng bài của bạn. Những lúc rảnh rỗi, cô thường kể chuyện cho chúng tôi nghe. Cả lớp cười vang khi nghe cô kể những mẩu chuyện vui, lý thú. Cô không chỉ chăm sóc chúng tôi mà còn quan tâm tìm hiểu các bạn gặp hoàn cảnh khó khăn, luôn tạo điều kiện về vật chất lẫn tinh thần. Cô luôn giúp đỡ các đồng nghiệp và các thầy cô khác cũng sẵn sàng giúp đỡ cô. Mỗi lần đi họp về, bố mẹ em lại hết lời khen ngợi về thái độ và năng lực giảng dạy của cô. Bố mẹ rất yên tâm khi tôi được cô dìu dắt để tìm con đường học tập tốt nhất. Nghe cô đọc thơ thật là thích: Lúc thì cao vút như tiếng chim hoạ mi buổi sớm mai, lúc thì đầm ấm, thiết tha. Nghe thơ tôi có cảm giác y như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết: “Nghe thơ em thấy đất trời đẹp ra”. Hàng ngày, cô luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến. Nhưng một lần cô gọi tôi lên bảng kiểm tra, hôm đó tôi quá mải chơi nên chưa làm bài tập. Cô phạt tôi điểm không. Tôi xấu hổ trở về bàn và ngồi phịch xuống. Ngước lên nhìn cô, tôi thấy nét mặt cô rất buồn, nhìn tôi với vẻ trách móc. Ngay chiều hôm đó, cô đến nhà tôi nhắc nhở, hỏi han và tranh thủ giảng cho tôi những bài tôi chưa giải được. Nhờ có sự kèm cặp liên tục của cô nên tôi tiến bộ rõ rệt về môn toán. Tôi nhớ lại những ngày tập viết với cô. Chữ tôi xấu cộng thêm tính cẩu thả nên thường bị điểm kém. Trong những giờ học sau cô quan tâm tới nhiều hơn. Cô dạy tôi nắn nót từng chữ từng nét. Tuy bàn tay cô đã nhiều chỗ bị chan sạn nhưng tôi vẫn thấy ấm áp và chan chứa tình thương. Bàn tay ấy đã chịu khó kiên nhẫn trao cho chúng tôi những kiến thức để làm hành trang bước vào đời.

    Vắng đâu đây lời của một nhạc phẩm: “Mẹ của em ở trường là cô giáo mến thương…”. Vâng! Đúng vậy. Làm sao tôi quên được người mẹ đã mở cánh cửa tâm hồn mình đón ánh hào quang của cuộc đời: Cô Thanh Huế.

    Đào Tú Uyên

    (Theo La Kim Liên, Cái Văn Thái… 162 Bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6)

    Đề 4: Kể lại một lần em mắc lỗi. Bài làm

    Ngồi trong căn nhà ấm cúng và nhìn những cơn mưa rơi ngoài cửa sổ, tôi bồi hồi xúc động nhớ lại một kỉ niệm buồn của tuổi ấu thơ mà có lẽ suốt cuộc đời này tôi sẽ chẳng bao giờ quên.

    Đó là một hôm trời oi bức, Lan đứng trước cổng chờ tôi cùng đi học. Lan gọi rối rít: “Trang ơi! Nhanh lên muộn học rồi”. Tôi cuống quýt mặc quần áo và vội vàng chạy ra cửa. Nội gọi tôi lại và bảo:

    – Cháu đem quần áo mưa đi, hôm nay trời oi dễ mưa lắm đấy! Tôi đang vội nên vừa nghe thấy nội nói, tôi gắt lên:

    – Nội đem cất quần áo mưa đi! Trời như thế này làm sao mà mưa được? Cháu mang nhiều sách lại cầm thêm áo mưa thì nặng lắm. Nói xong, tôi nắm tay Lan cùng chạy đến trường. May sao cho chúng tôi, khi chúng tôi vừa vào lớp thì bác bảo vệ đánh trống truy bài. Bốn tiết học trôi qua nhanh chóng. Nhưng đến tiết thứ năm, tôi nhìn ra bầu trời: Mây đen ùn ùn kéo đến, mỗi lúc một nhiều, gió bắt đầu thổi, sấm chớp liên hồi, báo hiệu một cơn mưa to sắp đến. Tôi hoảng sợ vì mình không mang áo mưa nên sẽ không về được, đến bây giờ tôi mới hiểu những lời nội nói ban chiều. Tôi thật sự ăn năn khi nghĩ về những lời gắt của tôi với nội. Hết tiết năm, tất cả các bạn học sinh đã về hết, bạn thì mang áo mưa, bạn thì có người đến đón. Thế là trong trường, chỉ còn lại mình tôi đứng lủi thủi dưới mái hiên. Bỗng tôi nhìn ra cổng trường thì thấy bóng ai trông quen quá, và tôi reo lên “Nội! Nội ơi! Cháu ở đây mà!”. Nội trông thấy tôi liền tất tưởi đi vào mặc quần áo mưa cho tôi. Vì nội chỉ mang một bộ áo mưa nên nội nhường cho tôi mặc còn nội thì chỉ đội mỗi chiếc nón cũ. Khi đi đường, lúc nào tôi cũng muốn xin lỗi nội nhưng không hiểu sao, môi tôi cứ mím chặt không nói lên lời. Về đến nhà quần áo nội ướt sũng, sau đó nội bị cảm rất nặng. Một tuần sau, nội mất. Bác sĩ bảo với bố mẹ tôi rằng nội đã già, sức khoẻ yếu mà lại bị cảm nặng nên khó lòng qua khỏi. Tôi khóc nhiều lắm, tôi chỉ buồn khi nội ra đi quá sớm, tôi không có đủ thời gian để xin lỗi nội về những hành động thiếu ý thức của mình. Vì không nghe lời nội nên tôi đã gây ra tai hoạ. Tôi thấy xấu hổ, vừa xót thương cho nội, vừa hối hận vô cùng.

    Nếu tôi có điều ước nào thì tôi chỉ muốn ước nội sống lại để tôi nói với nội: “Con xin lỗi nội”, sau đó tôi sẽ được nội âu yếm, vuốt ve và kể cho nghe những câu chuyện cổ tích như thuở nào.

    Vũ Thị Thu Trang

    (Theo Nguyễn Trọng Hoàn, Hà Thanh Tuyền. 162 Bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6)

    Đề 5: Kể về kỉ niệm thời thơ ấu làm em nhớ mãi Sông La quê ngoại

    Kì nghỉ hè năm học vừa qua, em được mẹ đưa về thăm quê của bà ngoại em ở Hà Tĩnh đó là lần đầu tiên em được về quê ngoại. Con đường thật dài, phải gần 1000 cây số mất một ngày một đêm ở trên tàu mới tới nơi.

    Đặt chân xuống quê ngoại em ngỡ ngàng, thanh bình và yên tĩnh quá, mở ra trước mắt em là cánh đồng lúa xanh mơn mởn, bao la típ tắp. Em nhắm mắt hít một hơi thật sâu hương lúa thơm dịu nhẹ, không khí trong lành mát mẻ. Từ ga tàu về nhà non một cây số, cả nhà em quyết định đi bộ để ngắm cảnh quê hương. Những ngôi nhà ở đây không cao như ở thành phố, nằm lẩn khuất dưới những bóng cây. Thỉnh thoảng một vài chú chó con thấy người lạ đi qua ngóc mõm lên: Gâu! Gâu! vài tiếng. Mấy bà cụ già thấy mẹ con em đi qua cất tiếng hỏi: “Mẹ con nhà Thu về ngoại chơi đấy à? Gớm lâu quá rồi, mới thấy mẹ con mày!”

    Em thầm nghĩ mọi người ở đây thật cởi mở, nồng hậu đáng yêu đến thế.

    Đi thêm một lúc trước mặt em là một dòng sông hiền hoà êm ả chưa hề thấy ở bất kì con sông nào của Sài Gòn. Thấy em đứng tần ngần, mẹ giải thích, những dòng sông ở miền Trung thường không đục, và đỏ như những con sông ở hai miền Nam và miền Bắc, vì dải đất miền Trung hẹp, sông ngắn ít phù sa, vì vậy những cánh đồng hai bên bờ sông thường ít màu mỡ. Người dân miền Trung vì thế mà cũng nghèo hơn các vùng khác. Nhưng bù lại những dòng sông ở miền Trung rất đẹp bởi màu nước trong xanh quyến rũ đến nao lòng người. Mẹ đọc cho em nghe câu thơ của một nhà thơ quê xứ Nghệ:

    Dẫu bao năm tháng không về lại Vẫn còn thăm thẳm nước sông La.

    Em ngắm nhìn những con đò nhỏ xuôi trên dòng sông, từ từ chậm rãi, mặt sông gợn sóng lăn tăn, phía bãi xa có một đám trẻ đang đùa giỡn, té nước trắng xoá lên nhau, cười nói ầm ĩ. Cả nhà tiếp tục cuộc hành trình. Dòng sông đã lùi lại phía sau lưng, em bỗng nghe câu hát của người chèo đò từ mặt sông cất lên:

    Ai có biết nước sông La răng là trong là đục Thì mới biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh.

    Vâng đúng thế! Em sẽ cố gắng sống thật xứng đáng, ơi dòng sông quê ngoại thân thương. Em sẽ còn trở lại nhiều lần nữa.

    Đề 6: Kể một tấm gương học tốt hay giúp đỡ bạn bè mà em biết. Bài làm

    Đến bây giờ, dù hai đứa học hai trường khác nhau nhưng tôi vẫn đến nhà và chơi với Sinh. Tôi rất cảm phục Sinh vì những việc mà Sinh đã làm cho Mai – người hàng xóm và cũng là bạn học của tôi và Sinh hồi tiểu học.

    Qua năm lớp 6, Mai đã hoàn tất bình phục. Bây giờ, tuy không học cùng Mai, Sinh nữa, nhưng tôi sẽ nhớ mãi kỉ niệm đẹp của ba đứa chúng tôi.

    Cao Bích Xuân

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Ông lão đánh cá và con cá vàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 61 Bài 6
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Khởi Ngữ Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Câu Phủ Định Ngắn Nhất
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 8 Bài 21: Câu Trần Thuật
  • Câu Cầu Khiến Sbt Văn Lớp 8 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Trang 24
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Ôn Tập Truyện Lớp 9
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Tổng Kết Phần Văn Học Nước Ngoài
  • Giải câu 1, 2, 3, 4 trang 5 SBT Ngữ Văn 9 tập 2. Trong lời nói của Nhuận Thổ sau đây, câu nào có chứa khởi ngữ ? Hãy chuyển từ làm khởi ngữ đó vào một vị trí thích hợp khác trong câu.

    1. Bài tập 1, trang 8, SGK.

    a) Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Điều này ông khổ tâm hết sức.

    b) – Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.

    c) Một mình thì anh bạn trên trạm đỉnh Phan-xi-păng ba nghìn một trăm bốn mươi hai mét kia mới một mình hơn cháu.

    d) Làm khí tượng, ở được cao thế mới là lí tưởng chứ.

    Trả lời:

    Để tìm được thành phần khởi ngữ, cần đọc kĩ phần Ghi nhớ (trang 8, SGK) và thực hiện các việc sau đây :

    – Tìm chủ ngữ, vị ngữ của câu. Nên tìm vị ngữ trước. Từ vị ngữ sẽ tìm được chủ ngữ : chủ ngữ là thành phần chính nêu tên sự vật hiện tượng có hoạt động, đặc điểm, trạng thái được miêu tả ở vị ngữ. Ví dụ : trong câu “Điều này ông khổ tâm hết sức. ” vị ngữ là cụm từ khổ tâm hết sức, còn chủ ngữ là từ ông.

    – Xem trong câu có từ hoặc cụm từ nào đứng trước chủ ngữ không. Ví dụ, trong câu “Điều này ông khổ tâm hết sức.” có một cụm từ đứng trước chủ ngữ .

    – Xem từ hoặc cụm từ đứng trước chủ ngữ có nêu lên đề tài được nói đến trong câu không. Nếu từ, cụm từ có nêu lên đề tài được nói đến trong câu thì đó là khởi ngữ.

    – Xem trước từ, cụm từ ấy có hoặc có thể thêm các quan hệ từ không. Nếu từ, cụm từ ấy có hoặc có thể thêm các quan hệ từ , được thì đó là khởi ngữ. Tuy nhiên, đây không phải là dấu hiệu bắt buộc phải có đối với khởi ngữ mà chỉ là một dấu hiệu thường gặp. Cũng có trường hợp khởi ngữ không có dấu hiệu này.

    2. Bài tập 2, trang 8, SGK.

    Hãy viết lại câu sau bằng cách chuyển phần in đậm thêm khởi ngữ:

    a) Anh ấy làm bài cẩn thận lắm.

    b) Tôi hiểu rồi nhưng tôi vẫn chưa giải được.

    Trả lời:

    Để trở thành khởi ngữ, phần in đậm cần được chuyển lên trước chủ ngữ.

    3. Trong hai câu cho sau đây câu nào chứa khởi ngữ và khởi ngữ là những từ ngữ nào ?

    Thế gian có biết bao người đọc sách chỉ để trang trí bộ mặt, như kẻ trọc phú khoe của, chỉ biết lấy nhiều làm quý. Đối với việc học tập, cách đọc đó chỉ là lừa mình dối người, đối với việc làm người thì cách đọc đó thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém.

    (Chu Quang Tiềm, Bàn về đọc sách)

    Trả lời:

    Trong bài tập có một câu ghép chứa hai khởi ngữ.

    4. Trong lời nói của Nhuận Thổ sau đây, câu nào có chứa khởi ngữ ? Hãy chuyển từ làm khởi ngữ đó vào một vị trí thích hợp khác trong câu.

    Anh Nhuận Thổ nói :

    – Lạy cụ ạ ! Thưa cụ con đã nhận được, /…/

    (Lỗ Tấn, Cố hương)

    Trả lời:

    Trong bài tập có một câu chứa khởi ngữ. Chỉ có thể chuyển từ làm khởi ngữ vào một vị trí thích hợp là ở sau cụm động từ làm vị ngữ ; khi đó, nó trở thành một bộ phận của cụm động từ này.

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khởi Ngữ Là Gì, Tác Dụng Và Nêu Ví Dụ Dễ Hiểu (Ngữ Văn 9)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Liệt Kê
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 1
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Ngôi Kể Trong Văn Tự Sự
  • Soạn Bài Kể Chuyện Tưởng Tượng
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Thuật Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Các Thành Phần Biệt Lập (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Các Thành Phần Biệt Lập
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Viết Bài Tập Làm Văn Số 1
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Luyện Tập Viết Hợp Đồng
  • Bài 20. Các Thành Phần Biệt Lập (Tiếp Theo)
  • Thuật ngữ

    1. Bài tập 1, tr. 89, SGK Trả lời:

    – Lực là tác dụng đẩy, kéo của vật này lên vật khác (Vật lí).

    – Xâm thực là toàn bộ các quá trình phá hủy lớp đất đá phủ trên mặt đất do các tác nhân: gió, băng hà, nước chảy… (Địa lí)

    – Hiện tượng hóa học là hiện tượng trong đó có sinh ra chất mới (Hóa học)

    – Trường từ vựng là tập hợp tất cả các từ có nét chung về nghĩa (Ngữ văn).

    – Di chỉ là nơi có dấu vết cư trú và sinh sống của người xưa (Lịch sử).

    – Thụ phấn là hiện tượng hạt phấn tiếp xúc với đầu nhụy (Sinh học).

    – Lưu lượng là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một điểm nào đó, trong một giây đồng hồ. Đơn vị đo: m3/s (Địa lí).

    – Trọng lực là lực hút của Trái Đất (Vật lí)

    – Khí áp là sức ép của khí quyển lên bề mặt Trái Đất (Địa lí).

    – Đơn chất là những chất do một nguyên tố hóa học cấu tạo nên (Hóa học)

    – Thị tộc phụ hệ là thị tộc theo dòng họ người cha, trong đó nam có quyền hơn nữ (Lịch sử)

    – Đường trung trực là đường thẳng vuông góc với một đoạn tại điểm giữa của đoạn ấy (Toán học).

    2. Bài tập 4, tr. 90, SGK Trả lời:

    – Nghĩa của thuật ngữ cá: là động vật có xương sống, ở dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang.

    – Nghĩa của từ cá thông thường: thể hiện qua cách gọi cá heo, cá voi, cá sấu thì cá không nhất thiết phải thở bằng mang.

    3. Tìm các thuật ngữ trong đoạn văn sau. Chúng là thuật ngữ của ngành khoa học nào?

    78. a, Vẽ hình vuông cạnh 4 cm. Tính chu vi và diện tích hình vuông đó

    b, Vẽ hình chữ nhật có chiều dài 5cm, chiều rộng 3 cm. Tính chu vi và diện tích hình chữ nhật đó

    Trả lời:

    – Các thuật ngữ trong đoạn văn: hình vuông, hình chữ nhật, chu vi, diện tích, cạnh, chiều dài, chiều rộng

    – Chúng thuộc ngành khoa học: Toán học

    4. So sánh nghĩa của thuật ngữ mắt trong sinh học với nghĩa của từ mắt trong ngôn ngữ thông thường trong nhũng tổ hợp sau: mắt cá chân, mắt na, mắt dứa, mắt võng, mắt lưới, mắt bão Trả lời:

    – Trong sinh học từ mắt biểu hiện khái niệm: cơ quan để nhìn của người hay động vật, giúp phân biệt được màu sắc, hình dáng; thường được coi là biểu tượng của cái nhìn của con người

    – Trong ngôn ngữ thông thường từ mắt có các nghĩa sau:

    + bộ phận giống hình những con mắt ở ngoài vỏ một số loại quả: mắt dứa,mắt na

    + lỗ hở, khe hở đều đặn ở các đồ đan: mắt lưới, mắt võng

    + mấu tròn nhỏ lồi ra ở cổ chân, chỗ đầu dưới xương cẳng chân: mắt cá chân

    + khu vực ở trung tâm cơn bão, có bán kính hàng chục kilomet, nơi gió thường yếu và trời quang mây: mắt bão

    5. Tìm các thuật ngữ toán học chỉ các loại góc khác nhau và xác định các khái niệm mà chúng biểu hiện. Trả lời:

    – Các thuật ngữ toán học có tiếng góc và khái niệm chúng biểu hiện:

    + Góc nhọn : góc mà độ lớn của nó dao động từ 0 độ đến 90 độ

    + Góc vuông : góc có giá trị bằng 90° , tương đương với một phần tư của vòng tròn

    + Góc tù: góc lớn hơn 90° nhưng nhỏ hơn 180°

    + Góc phản: góc có giá trị lớn hơn 180° nhưng nhỏ hơn 360°

    Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 9 (VBT Ngữ Văn 9) khác:

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Soạn Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Trau Dồi Vốn Từ
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thuật Ngữ Trang 89 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Những Đứa Trẻ (Trích Thời Thơ Ấu)
  • Giải Vật Lí 9 Bài 6: Bài Tập Vận Dụng Định Luật Ôm
  • Lời Giải 60 Bài Tập Tiếng Việt Lớp 9
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Hay Nhất
  • 1. Bài tập 1, trang 89, SGK.

    Vận dụng kiến thức đã học ở các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Toán học, Vật lí, Hoá học, Sinh học để tìm thuật ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống. Cho biết mỗi thuật ngữ vừa tìm được thuộc lĩnh vực khoa học nào.

    – /…/ là tác dụng đẩy, kéo của vật này lên vật khác.

    – /…/ là làm huỷ hoại dần dần lớp đất đá phủ trên mặt đất do các tác nhân : gió, băng hà, nước chảy,…

    – /…/ là hiện tượng trong đó có sinh ra chất mới.

    – /…/ là tập hợp những lừ có ít nhất một nét chung về nghĩa.

    – /…/ là nơi có dấu vết cư trú và sinh sống của người xưa. – /…/ là hiện tượng hạt phấn tiếp xúc với đầu nhụy. Trả lời:

    – /…/ là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một điểm nào đó, trong một giây đồng hồ. Đơn vị đo: m3/s.

    Nếu được lùm hạt giống để mùa sau(Tố Hữu, Chào xuân 67)

    Trả lời: Nếu lịch sử chọn ta lùm điểm tựa

    Vui gì hơn làm người lính đi đầu

    Trả lời: Trong đêm tối, tim ta là ngọn lửa! – /…/ là lực hút của Trái Đất.

    – /…/ là sức ép của khí quyển lên bề mặt Trái Đất.

    – /…/ là những chất do một nguyên tố hoá học cấu tạo nên.

    – /…/ là thị tộc theo dòng họ người cha, trong đó nam có quyền hơn nữ.

    – /…/ là đường thẳng vuông góc với một đoạn thẳng tại điểm giữa của đoạn ấy. Trả lời:

    Vận dụng kiến thức đã học ở các môn học trong nhà trường để tìm thuật ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống và cho biết mỗi thuật ngữ vừa tìm được thuộc lĩnh vực khoa học nào. Chẳng hạn : Lực là tác dụng đẩy, kéo của vật này lên vật khác (vật lí) ; Đường trung trực là đường thẳng vuông góc với một đoạn thẳng tại điểm giữa của đoạn ấy (toán học).

    2. Bài tập 2, trang 90, SGK.

    Đọc đoạn trích sau đây :

    Trong đoạn trích này, điểm tựa có đưực dùng như một thuật ngữ vật lí hay không ? Ở đây, nó có ý nghĩa gì ?

    Trả lời:

    Điểm tựa là một thuật ngữ vật lí, có nghĩa là điểm cố định của một đòn bẩy, thông qua đó lực tác động được truyền tới lực cản. Em hãy xác định xem trong đoạn trích này, từ điểm tựa có được dùng theo nghĩa như vậy không.

    3. Bài tập 3, trang 90, SGK.

    Trong hoá học, thuật ngữ hỗn hợp được định nghĩa là “nhiều chất trộn lẫn vào nhau mà không hoá hợp thành một chất khác”, còn từ hỗn hợp hiểu theo nghĩa thông thường là “gồm có nhiều thành phần trong dó mỗi thành phần vẫn không mất tính chất riêng của mình”.

    Trả lời:

    Cho biết trong hai câu sau đây, trường hợp nào hỗn hợpđược dùng như một thuật ngữ, trường hợp nào hỗn hợp được dùng như một từ thông thường.

    a) Nước tự nhiên ở ao, hồ, sông, biển,… là một hỗn hợp.

    b) Đó là một chương trình biểu diễn hỗn hợp nhiều tiết mục.

    Hãy đặt câu với từ hỗn hợp dùng theo nghĩa thông thường.

    So sánh nghĩa của từ hỗn hợp trong hai câu (a) và (b) với hai nghĩa đã nêu trong bài tập để biết được trong trường hợp nào từ này được dùng như một thuật ngữ và trong trường hợp nào được dùng theo nghĩa thông thường.

    Trả lời:

    Em hãy dựa vào câu có từ hỗn hợp dùng theo nghĩa thông thường để đặt câu theo yêu cầu của bài tập.

    4. Bài tập 4, trang 90, SGK.

    Trả lời:

    Trong sinh học, cá voi, cá heo được xếp vào lớp thú, vì tuy những động vật này có xương sống, ở dưới nước, bơi bằng vây nhưng không thở bằng mang mà thở bằng phổi.

    Căn cứ vào cách xác định của sinh học, hãy định nghĩa thuật ngữ cá. Có gì khác nhau giữa nghĩa của thuật ngữ này với nghĩa của từ cá theo cách hiểu thông thường của người Việt (thể hiện qua cách gọi cá voi, cá heo) ?

    Tiếng Việt gọi các động vật đó là cá voi, cá heo thì có nghĩa là theo cách hiểu thông thường của người Việt, cá là loài sống dưới nước bơi bằng vây nhưng không nhất thiết phải thở bằng mang.

    5. Bài tập 5, trang 90, SGK.

    Trong kinh tế học, thuật ngữ thị trường ( thị : chợ – yếu tố Hán Việt) chỉ nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hoá, còn trong quang học (phân ngành vật lí nghiên cứu về ánh sáng và tương tác của ánh sáng với vật chất), thuật ngữ thị trường ( thị : thây – yếu tố Hán Việt) chỉ phần không gian mà mắt có thể quan sát được. Hiện tượng đồng âm này có vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm đã nêu ở phần Ghi nhớ không ? Vì sao ?

    Cần lưu ý : kinh tế học và quang học là hai lĩnh vực khoa học riêng biệt.

    6. Tra cứu tài liệu và cho biết nghĩa của thuật ngữ vi-rút trong sinh học và trong tin học. Nếu cho đây là hiện tượng đồng âm thì đúng hay sai ? Có thể coi đây là trường hợp vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm hay không ?

    Trong sinh học, vi-rút có nghĩa là “một sinh vật cực nhỏ, đơn giản, chưa có cấu tạo tế bào, gây ra các bệnh truyền nhiễm”.

    Trong tin học, vi-rút có nghĩa là “một bộ mật mã xâm nhập vào chương trình máy tính nhằm gây ra lỗi, phá những thông tin được lưu trữ”.

    Theo em, nghĩa của vi-rút trong sinh học và v i-rút trong tin học có quan hệ với nhau hay không ? Qua đó có thể xác định đây có phải là hiện tượng đồng âm hay không ?

    7. Có thể thay thuật ngữ chứng mộng du bằng chứng đi lang thang trong đêm, chứng mất ngôn ngữ bằng chứng không nói được được không ? Vì sao ?

    Có thể tra cứu tài liệu để biết chứng mộng du; chứng mất ngôn ngữ nghĩa là gì. So sánh với nghĩa của những cụm từ chứng lang thang trong đêm, chứng không nói được để tìm ra câu trả lời thích hợp.

    Cần lưu ý là hầu hết các thuật ngữ trong tiếng Việt đều là từ vay mượn. Đặc biệt, các yếu tố Hán Việt có vai trò rất quan trọng trong việc cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt.

    8. Bộ môn khoa học nghiên cứu tên địa phương gọi là địa danh học. Vậy bộ môn khoa học nghiên cứu tên người gọi là gì ?

    Theo nguyên tắc, cấu tạo thuật ngữ phải bảo đảm tính hệ thống.

    9. Hãy nêu một số thuật ngữ dùng trong toán học mà em biết.

    HS có thể nêu một số thuật ngữ dùng trong số học và hình học như : số nguyên, số âm, số dương, số mũ, tam giác, tứ giác, hình bình hành, hình vuông : đường trung tuyến, góc vuông, góc nhọn, góc tù,…

    10. Hãy cho biết các thuật ngữ dùng trong toán học thể hiện những đặc điểm nào của thuật ngữ nói chung.

    Các thuật ngữ dùng trong toán học có đặc điểm của thuật ngữ nói chung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phép Phân Tích Và Tổng Hợp
  • Giải Bài Tập Vật Lý 8 Bài 23: Đối Lưu Bức Xạ Nhiệt
  • Giải Bài Tập Vật Lý 8 Bài 23: Đối Lưu
  • Bài Tập Con Lắc Lò Xo, Các Dạng Toán Và Cách Giải
  • Giải Bài Tập Vật Lý 12 Bài 2: Con Lắc Lò Xo
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Bếp Lửa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bếp Lửa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Soạn Bài: Bếp Lửa (Ngắn Nhất)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Câu 1 (trang 137 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Phần Tập làm văn trong Ngữ văn 9, tập một có những nội dung lớn nào? Những nội dung nào là trọng tâm cần chú ý?

    Phương pháp giải:

    Phần Tập làm văn này đề cập tới hai loại văn bản: thuyết minh và tự sự. Ở từng loại văn bản, có một số nội dung trọng tâm quan trọng cần ghi nhớ.

    Lời giải chi tiết:

    – Trong phần tập làm văn trong Ngữ văn 9 tập một có hai nội dung lớn: thuyết minh và tự sự.

    – Những nội dung là trọng tâm cần chú ý:

    + Trong thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật khác giúp bài văn thêm sinh động, rõ ràng.

    + Trong tự sự có miêu tả, nghị luận.

    + Sự kết hợp các phương thức đó kết hợp với phương thức chính làm cho bài văn thêm sinh động, hấp dẫn. Tuy nhiên sự kết hợp đó chỉ thành công khi có sự hợp lí: đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ.

    Câu 2 Câu 2 (trang 138 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Vai trò, vị trí, tác dụng của các biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh như thế nào? Cho một ví dụ cụ thể.

    Phương pháp giải:

    Dựa vào ghi nhớ và các ví dụ được nhắc tới ở bài 1 và bài 2 trong SGK, em thực hiện các yêu cầu của bài tập.

    Lời giải chi tiết:

    – Vị trí, vai trò, tác dụng của giải thích và miêu tả trong văn bản thuyết minh: trong thuyết minh nhiều khi người ta phải giải thích để làm rõ sự vật cần giải thích, nhất là khi gặp các thuật ngữ, các khái niệm chuyên môn hoặc nhưng nội dung trừu tượng và đương nhiên và cũng phải vận dụng miêu tả để người nghe hình dung ra đối tượng. Yêu cầu giải thích và miêu tả là không thể thiếu trong văn thuyết minh.

    – Ví dụ: khi thuyết minh về cây bút : ta cần giải thích cấu tạo cây bút, miêu tả các bộ phận cây bút,…..

    Câu 3 Câu 3 (trang 138 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Văn bản thuyết minh có yếu tố miêu tả, tự sự giống và khác với văn bản miêu tả, tự sự ở điểm nào?

    Phương pháp giải:

    Trước hết, nêu sự giống nhau, nhưng chủ yếu nói rõ sự khác nhau. Cần nhớ rằng, yếu tố miêu tả, tự sự trong văn bản thuyết minh chỉ là yếu tố phụ trợ, bổ sung; chỉ là phương tiện chứ không phải là mục đích.

    Lời giải chi tiết:

    – Giống nhau: Cùng làm cho người khác hiểu rõ về đối tượng.

    + Văn thuyết minh phải trung thành với đặc điểm của đối tượng; ít dùng tưởng tượng, so sánh,…; dùng nhiều số liệu chi tiết, chính xác; bảo đảm tính khách quan, khoa học; sử dụng nhiều kiến thức về văn hoá, khoa học,…; thường đơn nghĩa.

    + Văn miêu tả dùng nhiều hình ảnh, cảm xúc; ít dùng số liệu cụ thể, chi tiết; dùng nhiều trong sáng tác văn chương, nghệ thuật; ít có khuôn mẫu và thường đa nghĩa.

    Câu 4 Câu 4 (trang 139 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Sách Ngữ văn 9, tập một nêu lên những nội dung gì về văn bản tự sự? Vai trò, vị trí và tác dụng của các yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận trong văn bản tự sự như thế nào? Hãy cho ví dụ một đoạn văn tự sự trong đoạn trong đó có sử dụng yếu tố miêu tả nội tâm; một đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận và một đoạn văn tự sự có sử dụng cả yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận. (Có thể lấy trong các tác phẩm văn học đã học, đã đọc hoặc trong các bài văn tham khảo của bạn cũng như của mình,…).

    Phương pháp giải:

    Đọc lại phần tập làm văn, tham khảo các ví dụ được đề cập tới trong các bài 8, 10, 12, 13, lần lượt trả lời từng câu hỏi. Các đoạn văn theo yêu cầu có thể tìm trong sách Ngữ văn 6, 7, 8, 9.

    Lời giải chi tiết:

    Các nội dung đã học về văn bản tự sự ở Ngữ văn 9, tập 1

    – Kết hợp miêu tả với nghị luận, đối thoại và độc thoại, người kể và ngôi kể.

    – Vai trò, vị trí và tác dụng của các yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận trong văn bản tự sự: miêu tả nội tâm giúp cho người viết đi sâu phân tích, trình bày những diễn biến tâm lí, cảm xúc, ý nghĩ,… của nhân vật; nghị luận giúp người viết trình bày dễ dàng những vân đề về triết lí sống, nhân sinh,…

    – Ví dụ về các đoạn văn có sự kết hợp yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận:

    Đoạn văn tự sự sử dụng yếu tố miêu tả nội tâm:

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”

    (Kiều ở lầu Ngưng Bích – Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    Câu 5 Câu 5 (trang 140 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Thế nào là đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm? Vai trò, tác dụng và hình thức thể hiện của các yếu tố này trong văn bản tự sự như thế nào? Tìm các ví dụ về đoạn văn tự sự có sử dụng các yếu tố đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm.

    Phương pháp giải:

    Đọc lại phần tập làm văn và các ví dụ được nhắc tới trong bài 13 để trả lời các câu hỏi ở trên. Tìm ví dụ theo yêu cầu của bài tập trong SGK Ngữ văn các lớp 6, 7, 8, 9.

    Lời giải chi tiết:

    – Đối thoại: là hình thức đối đáp trò chuyện giữa hai hay nhiều người.

    Vai trò: làm cho câu chuyện sống động như trong cuộc sống.

    Ví dụ:

    – Con hãy nghỉ ngơi vài hôm, đi thăm các nhà bà con một chút rồi cùng mẹ con mình lên đường.

    ( Cố hương – Lỗ Tấn)

    – Độc thoại: là lời nói không nhằm vào ai đó hoặc nói với chính mình. (phái trước có dấu ghạch đầu dòng).

    Vai trò: bộc lộ trực tiếp thái độ, cảm xúc, tâm lí của nhân vật.

    Ví dụ:

    Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to: – Hà nắng gớm, về nào….

    ( Làng – Kim Lân)

    – Độc thoại nội tâm: là lời độc thoại không cất lên thành lời (không có dấu ghạch đầu dòng).

    Vai trò: dễ đi sâu vào việc khám phá nội tâm nhân vật.

    Ví dụ:

    Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lãi cứ giàn ra, Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…

    ( Làng – Kim Lân)

    Câu 6 Câu 6 (trang 141 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

    Tìm hai đoạn văn tự sự, trong đó có một đoạn người kể chuyện kể theo ngôi thứ nhất, một đoạn kể theo ngôi thứ ba. Nhận xét vai trò của mỗi loại người kể chuyện đã nêu.

    Phương pháp giải:

    Ở đoạn văn thứ nhất, người kể chuyện thường xưng là “tôi”, “chúng tôi” (ngôi thứ nhất), còn ở đoạn văn thứ hai, người kể chuyện giấu mình nhưng có mặt ở khắp nơi trong văn bản (tham khảo vai người kể chuyện trong truyện “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long.

    Lời giải chi tiết: a. Ví dụ về các đoạn văn tự sự

    – Đoạn văn kể theo ngôi thứ nhất

    Lão đặt xe điếu, hút. Tôi vừa thở khói, vừa gà gà đôi mắt của người say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão đó thôi. Thật ra thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi. Tôi lại biết rằng: lão nói là nói để có đấy thôi; chẳng bao giờ lão bán đâu. Vả lại, có bán thật nữa thì đã sao? Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế…

    – Đoạn văn kể theo ngôi thứ ba

    b. Nhận xét:

    – Vai trò kể theo ngôi thứ nhất: sự kiện, nhân vật được nhìn dưới mắt tou với những nhận xát, cảm xúc chủ quan nên sinh động nhưng cũng có thể phiến diện, một chiều trong cách nhìn, đánh giá.

    – Vai trò của người kể theo ngôi thứ ba: tất cả được đánh giá theo điểm nhìn của tác giả. Tuy nhiên, đối với một số tác phẩm hiện đại, người kể chuyện có thể đứng ở nhiều điểm nhìn, do đó sự kiện, nhân vật hiện lên ở nhiều chiều, nhiều cách đánh giá.

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Nước Đại Việt Ta
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Sách Bài Tập Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Nhớ Rừng Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100