Ý Nghĩa Văn Chương Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2 Trang 49 Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Soạn Bài Trả Bài Tập Làm Văn Số 7 Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Bài 6.9, 6.10, 6,11 Trang 21, 22 Sbt Vật Lý 8: Lực Ma Sát Nghỉ Tác Dụng Lên Vật Khi Đó Có…
  • Giải Bài Tập Giải Sbt Vật Lí 8 Bài 21: Nhiệt Năng
  • Giải Bài 2.9, 2.10, 2.11, 2.12 Trang 8 Sách Bài Tập Vật Lí 9
  • Giải Bài 2 Sách Bài Tập Vật Lý 9
  • Giải câu 1, 2, 3 trang 49 Sách bài tập (SBT) Ngữ Văn 7 tập 2. Ví thử có người chưa hiểu thế nào là “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương” muốn nhờ em giải thích, em sẽ nói gì ?.

    Bài tập

    1. Ví thử có người chưa hiểu thế nào là “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương” muốn nhờ em giải thích, em sẽ nói gì ?

    2. Hoài Thanh viết : “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Em hãy giải thích và chứng minh ý kiến đó bằng cách nói rõ Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca – trích) của Nguyễn Trãi đã gây cho ta “những tình cảm ta không có”, “luyện những tình cảm ta sẵn có” như thế nào ?

    3. Ví thử có người hỏi em rằng trong đoạn văn Ý nghĩa văn chương của nhà văn Hoài Thanh, những ý cơ bản nhất là gì thì em sẽ trả lời thế nào ?

    Gợi ý làm bài

    1. a) Cần hiểu muc đích của bài tập là nhằm bước đầu rèn luyện ý thức coi trọng lí thuyết và năng lực hiểu được lí thuyết, hiểu được khái niệm là công cụ để nhận thức văn học. Mặt khác, đây còn là bước đầu tập giải thích, trình bày một vấn đề cho người khác hiểu.

    – Với bài tập này, mới đọc qua có thể nghĩ là khó, nhưng khó hay không khó còn tuỳ thuộc vào mức độ yêu cầu được đặt ra và cách thức hướng dẫn thực hiện yêu cầu đó. Ở đây, mức yêu cầu chỉ cần sơ bộ hiểu thế nào là “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương”, để từ đó có thể nói lại cho người khác hiểu, dĩ nhiên cũng ở mức đơn giản, bước đầu.

    – Cần chú ý rằng việc hiểu lí thuyết phải đi đôi với khả năng kiểm nghiệm lí thuyết qua việc phân tích tác phẩm cụ thể. Có như thế thì sự hiểu biết lí thuyết mới đạt đến độ cần có. Trong khi giải thích lí thuyết cho người khác hiểu cũng phải có dẫn chứng xác đáng trên cơ sở phân tích một vấn đề, một tác phẩm văn học cụ thể. Có thế, người nghe mới hiểu rõ.

    b) Để làm bài tập này, hãy chuẩn bị trước những hoạt động sau đây :

    – Đọc kĩ lại chú thích (7), trang 62, SGK.

    – Đọc kĩ hai đoạn sau trong văn bản “Ýnghĩa văn chương”:

    + Đoạn 1 : “Một người hằng ngày chỉ cặm cụi lo lắng vì mình… há chẳng phải là chứng cớ cho cái mãnh lực lạ lùng của văn chương hay sao ?”.

    + Đoạn 2 : “Có kẻ nói từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non… Lời ấy tưởng không có gì là quá đáng…”.

    – Nêu nội dung quan niệm của Hoài Thanh về “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương”.

    + Với đoạn 1, đó là trạng thái tình cảm, cảm xúc của người ta trước và sau khi “xem truyện” (cũng có nghĩa là xem văn chương nói chung) là thế nào, để từ đó suy ra sự tác động của văn chương đến người đọc.

    + Với đoạn 2, hãy chú ý đến sự khác nhau về giá trị của “cảnh núi non, hoa cỏ”, khi chưa có và khi đã có thi sĩ ca tụng. Từ đó, suy ra một phương diện khác của tác động văn chương với cái gọi là “mãnh lực lạ lùng” của nó.

    – Chọn một tác phẩm (ví dụ : đoạn thơ Sau phút chia li trong Chinh phụ ngâm khúc hoặc bài thơ Qua Đèo Ngang…) để phân tích, chứng minh cho những gì em đã hiểu, về cái “mãnh lực lạ lùng của văn chương”.

    c) Từ kết quả chuẩn bị trên, hãy suy nghĩ và lập dàn ý cho lời giải thích của em với người muốn hiểu. Có thể theo trình tự như sau :

    – Trước hết, nói qua thế nào là “mãnh lực”.

    – Nêu xuất xứ của cụm từ “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương”.

    – Đọc lại hai đoạn văn trên và chỉ ra những ý chính về “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương”.

    – Lấy vài dẫn chứng trong một tác phẩm nào đó để phân tích, minh hoạ.

    2. a) Trước hết, cần nhận thức mục đích của bài tập này là nhằm rèn luyện kĩ năng vận dụng lí thuyết vào việc hiểu tác phẩm văn học cụ thể, để từ đó nâng cao chất lượng học tập trên cả hai phương diện : lí thuyết và hiểu biết tác phẩm.

    b) Tìm ra những nội dung chính trong ý kiến của Hoài Thanh là :

    – “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có”.

    – Văn chương “luyện những tình cảm ta sẵn có”.

    c) Từ việc hiểu ý kiến của Hoài Thanh, em hãy đôi chiếu, kiểm tra lại thực trạng tình cảm của mình trước và sau khi học “Bài ca Côn Sơn” của Nguyễn Trãi, ghi lại những điều gì trước chưa có, nay mới có, trước “sẵn có” nhưng còn mờ nhạt, nay rõ nét hơn, thấm thìa hơn. (Ví dụ 1 : Trước, em chưa hề biết gì về Côn Sơn, do đó chưa hề thích thú gì nơi này. Nay nhờ học đoạn thơ mà bắt đầu biếtCôn Sơn là một thắng cảnh, nơi mà người anh hùng kiêm đại thi hào Nguyễn Trãi đã có nhiều năm tháng gắn bó, lại có “Bài ca Côn Sơn” hấp dẫn tuyệt vời, vì vậy em yêu thích và khát khao được đến Côn Sơn để tham quan, để thưởng ngoạn cảnh đẹp, chiêm ngưỡng di tích lịch sử. Đó là thuộc tình cảm “không có”, nay nhờ văn chương mà có. Ví dụ 2 : Trước, em đã thích nghe tiếng suối chảy róc rách, nay sau khi học “Bài ca Côn Sơn” em hình dung “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” – nghĩa là nghe tiếng suối như tiếng đàn, thì việc nghe tiếng suối chắc chắn sẽ càng thích thú hơn). Đó là trường hợp tình cảm đã “sẵn có” nhưng nhờ văn chương mà “luyện” cho thích thú hơn.

    d) Dựa theo các ví dụ trên, có thể tiếp tục nêu lên những nội dung tình cảm, những điều lí thú khác mà đoạn thơ trích “Bài ca Côn Sơn” đã đưa đến cho em từ chỗ “không có” mà có, “sẵn có” mà có thêm.

    3. – Cần thấy mục đích của bài tập này là nhằm rèn luyện năng lực đọc văn bản mà yêu cầu quan trọng nhất là phải nhận ra được đâu là những ý chính của văn bản, để từ đó mà nhớ. Một nguyên tắc cần biết nữa là : để nhớ được nội dung một vấn đề, điều cần nhất là phải nhớ được những ý chính rồi từ đó mà nhớ thêm ý phụ được chừng nào hay chừng ấy.

    – Cách làm : Hãy đọc đi đọc lại nhiều lần đoạn văn và dùng bút chì gạch dưới những câu chữ mà mình cho là ý chính. Xong một lần, lại đọc lại và kiểm tra xem đã thật đúng chưa, đủ chưa. Nếu chưa thì bổ sung thêm. Ví như ở bài Ý nghĩa văn chương này thì hướng trả lời về những ý chính là :

    + “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài” ;

    + “Văn chương sẽ là hình dung của sư sống muôn hình vạn trạng” ;

    + “Văn chương còn sáng tạo ra sự sống” ;

    + “mãnh lực lạ lùng của văn chương” ;

    + “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có” ;

    + “luyện những tình cảm ta sẵn có” ;

    + “Nếu trong pho lịch sử loài người… nghèo nàn sẽ đến bực nào !…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Soạn Bài Ý Nghĩa Văn Chương Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Soạn Bài Ý Nghĩa Văn Chương Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư (Vọng Lư Sơn Bộc Bố)
  • Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư
  • Soạn Bài: Xa Ngắm Thác Núi Lư (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Câu Ghép (Tiếp Theo) Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 84 Sbt Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Câu Ghép (Tiếp Theo)
  • Giải Soạn Bài Lập Dàn Ý Cho Bài Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Câu Ghép Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 76 Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1.
  • Soạn Bài Khi Con Tu Hú Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Khi Con Tu Hú (Tố Hữu)
  • Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 trang 84 SBT Ngữ Văn 8 tập 1. Ghép từng đôi câu đơn sau đây thành một câu ghép, dùng các quan hệ từ thích hợp với quan hệ ý nghĩa cho sẵn trong ngoặc đơn sau từng đôi câu đó.. Soạn bài Câu ghép (tiếp theo) SBT Ngữ Văn 8 tập 1 – Soạn bài Câu ghép (tiếp theo)

    1. Bài tập 1, trang 124, SGK.

    (Thanh Tịnh, Tôi đi học) b) Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến bực nào ! (Hoài Thanh, Ý nghĩa văn chương) c) Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. (Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ) d) Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bên bờ sông Lương. (Nguyễn Đình Thi) e) Hai người giằng co nhau, du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau […]. Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, bị chị này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm. Trả lời:

    Để làm bài tập này, cần đối chiếu từng câu ghép với những điều nói ở phần Ghi nhớ ong SGK (trang 112, trang 123).

    Ví dụ : Câu ghép (a) có ba vế câu. Quan hệ giữa vế câu thứ nhất với vế câu thứ hai là quan hệ nguyên nhân, vế câu thứ nhất chỉ kết quả, vế câu thứ hai chỉ nguyên nhân. Quan hệ giữa vế câu thứ hai với vế câu thứ ba là quan hệ giải thích. Vế câu thứ hai biểu thị điều được giải thích, còn vế câu thứ ba dùng để giải thích điều được nói ở vế câu thứ hai.

    Quan hệ ý nghĩa giữa những vế câu trong các câu ghép còn lại là quan hệ điều kiện, quan hệ tăng tiến, quan hệ tương phản, quan hệ tiếp nối, quan hệ nguyên nhân.

    2. Bài tập 2, trang 124 – 125, SGK.

    Đọc các đoạn trích trong sách giáo khoa và trả lời câu hỏi.

    – Biển luôn thay đổi tuỳ theo màu sắc mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề . Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận giữ. – Vào mùa sương, ngày ở Hạ Long như ngắn lại. Buổi sớm, mặt trời lên ngang cột buồm, sương tan, trời mới quang. Buổi chiều, nắng vừa nhạt, sương đã buông nhanh xuống mặt biển.

    a) Tìm câu ghép trong những đoạn trích trên.

    b) Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu trong mỗi câu ghép.

    c) Có thể tách mỗi vế câu nói trên thành một câu đơn không ? Vì sao?

    Trả lời:

    Bài tập này có ba câu hỏi với mục đích sau đây : Câu hỏi (a) yêu cầu nhận diện câu ghép, câu hỏi (b) yêu cầu xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu, câu hỏi (c) yêu cầu nhận xét về việc dùng câu ghép khác dùng câu đơn như thế nào.

    – Hướng giải đáp câu hỏi (b) :

    Đê biết quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu là quan hệ gì, cần căn cứ vào nội dung của câu mở đầu mỗi đoạn trích. Các câu ấy trình bày một ý khái quát về quan hệ giữa màu nước biển với sắc mây trời hay giữa ngày (thời gian có ánh sáng mặt trời) với mùa sương trên vịnh Hạ Long.

    – Hướng giải đáp câu hỏi (c) :

    Không nên tách mỗi vê câu ưong các câu ghép đã cho ở đây ra thành một câu đơn, vì mối quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ở đây rất chặt chẽ : ý được nêu của vế câu này là điều kiện hay nguyên nhân của ý được nêu trong vế câu kia.

    3. Bài tập 3, trang 125, SGK.

    (Nam Cao, Lão Hạc) Trả lời:

    Bài tập này có mục đích đánh giá cách dùng câu ghép gắn với một trường hợp cụ thể.

    Mỗi “câu ghép rất dài” ở đây là một câu ghép gồm nhiều bộ phận có quan hệ với nhau rất phức tạp. về phương diện lập luận, không nên tách các bộ phận trong từng “việc” của lão Hạc ra thành câu riêng, vì các việc nhỏ trong đó gắn kết với nhau làm thành “hai việc”, về giá trị biểu hiện thực tế việc tạo những câu dài như vậy còn nhằm phản ánh cách nói dài dòng của lão Hạc, như tác giả đã nói lúc ban đầu.

    4. Bài tập 4, trang 125 -126, SGK.

    (Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

    a) Quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép thứ hai là quan hệ gì? Có nên tách mỗi vế của câu thành một câu đơn không? Vì sao?

    b) Thử tách mỗi vế trong các câu ghép thứ nhất và thứ ba thành một câu đơn. So sánh cách viết ấy với cách viết trong đoạn trích, qua mỗi cách viết, em hình dung nhân vật nói như thế nào ?

    Trả lời:

    Dựa vào gợi ý ở những bài tập trên, em tự làm bài tập này.

    5. Trong các câu ghép sau đây, quan hệ từ (in đậm) nào chỉ kiểu quan hệ ý nghĩa nào trong số các quan hệ ý nghĩa nêu bên dưới.

    a) Nếu ông trả lời đúng ngựa của ông đi một ngày được mây bước, tôi sẽ cho ồng biết trâu của cha tôi cày một ngày được mấy đường.

    (Em bé thông minh) b) Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. c) Tôi không muốn trả lời mẹ tôi vì tôi muốn khóc quá. d) Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp, rồi hắn cứ nhả vào cạnh anh Dậu. (Ngô Tất Tố, Tắt đèn) e) Giá tôi không trêu chị Cốc thì đầu đến nỗi Choắt việc gì. g) Đến hoàng cung, con bảo cha đứng đợi ở ngoài còn mình thì nhân lúc mấy tên lính canh vô ý, lẻn vào sân rồng khóc um lên. (Em bé thông minh)

    Các quan hệ ý nghĩa :

    – Quan hệ nguyên nhân.

    – Quan hệ điều kiện.

    – Quan hệ giả thiết.

    – Quan hệ tiếp nối.

    – Quan hệ tương phản.

    Trả lời:

    Các kiểu quan hệ nêu trong bài tập thường được diễn đạt bằng các quan hệ từ cho sau đây :

    – Quan hệ nguyên nhân được diễn đạt bằng các quan hệ từ : vì, do, tại, bổi, nhờ.

    – Quan hệ điều kiện được diễn đạt bằng quan hệ từ : nếu.

    – Quan hệ giả thiết được diễn đạt bằng quan hệ từ : giá.

    – Quan hệ tiếp nối được diễn đạt bằng quan hệ từ : rồi.

    – Quan hệ tương phản được diễn đạt bằng các quan hệ từ : tuy hay nhưng hay tuy… nhưng.

    6. Ghép từng đôi câu đơn sau đây thành một câu ghép, dùng các quan hệ từ thích hợp với quan hệ ý nghĩa cho sẵn trong ngoặc đơn sau từng đôi câu đó.

    a) Các bạn ấy chăm học. Các bạn ấy chắc sẽ đạt kết quả tốt. (Quan hệ nguyên nhân)

    b) Chúng ta học tập chăm chỉ. Chắc chúng ta sẽ đạt kết quả tốt. (Quan hệ điều kiện)

    c) Gia đình bạn ấy có nhiều khó khăn. Bạn ấy vẫn cố gắng học tập đều đặn và có kết quả tốt. (Quan hệ tương phản)

    Trả lời:

    Tham khảo gợi ý ở lời giải bài tập 5.

    7*. Điền vào chỗ trống những từ thích hợp để tạo câu ghép theo kiểu quan hệ cho sẵn sau từng câu.

    a) Gió /…/ to, diều bay /…/cao. (Quan hệ tăng tiến)

    b) Nước biển vùng này trong và ít sóng… người đến tắm rất đông. (Quan hệ nguyên nhân)

    c) Gió mối lúc một mạnh thêm /…/ sóng mối lúc một thêm cao. (Quan hệ bổ sung)

    d) Chiếc xe dùng lại /…/ mọi người lần lượt xuống xe. (Quan hệ tiếp nối)

    Trả lời:

    Tham khảo gợi ý ở lời giải bài tập 5.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Câu Ghép Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Giải Soạn Bài Câu Ghép (Tiếp Theo) Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 8 Bài 6: Cô Bé Bán Diêm
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Ôn Luyện Về Dấu Câu Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Dấu Ngoặc Kép Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Tổng Kết Phần Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 Trang 124 Sbt…

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8, Tập 1
  • Thuyết Minh Về Quyển Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Tình Thái Từ
  • Soạn Bài Nghĩa Của Câu
  • Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 trang 124 SBT ngữ văn 10 tập 2. Lập bảng so sánh để thấy được những điểm khác nhau giữa văn học dân gian và văn học viết Việt Nam.. Soạn bài Tổng kết phần văn học SBT ngữ văn 10 tập 2

    1. Lập bảng so sánh để thấy được những điểm khác nhau giữa văn học dân gian và văn học viết Việt Nam.

    Trả lời:

    Có thể thấy được những điểm khác nhau giữa văn học dân gian và văn học viết Việt Nam qua bảng so sánh sau :

    Trả lời:

    HS ôn lại những tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam tiêu biểu đã học ở chương trình Ngữ văn lớp 10, điền vào ô thích hợp trong bảng một cách ngắn gọn những điểm cơ bản nhất.

    Ví dụ:

    Phạm Ngũ Lão

    – Thời đại Đông A với sức mạnh và khí thế hào hùng, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Trang nam nhi thời Trần với chí lớn lập công danh trong sự nghiệp cứu nước và ý thức trách nhiệm trước dân tộc.

    – Thủ pháp nghệ thuật thiên về gợi, khái quát, đạt tới độ súc tích cao. Bút pháp nghệ thuật có tính sử thi với hình ảnh gợi cảm, mang vẻ đẹp hoành tráng.

    Trương Hán Siêu

    Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú)

    – Tự hào trước chiến thắng lịch sử và chiến công thời đại trên dòng sông Bạch Đằng. Tự hào trước truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam.

    – Cấu tứ đơn giản nhưng hấp dẫn nhờ xây dựng trên một bố cục chặt chẽ. Hình tượng nhân vật “khách” và các vị bô lão, hình tượng thiên nhiên, lời văn biền ngẫu đạt hiệu quả nghệ thuật cao.

    Nguyễn Trãi

    Đại cáo bình Ngô (Bình Ngô đại cáo)

    – Khẳng định độc lập dân tộc, niềm tự hào dân tộc. Lên án tội ác kẻ thù xâm lược. Ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, ca ngợi sức mạnh của nhân nghĩa kết hợp với sức mạnh của lòng yêu nước. Niềm tin vào tương lai đất nước. Vận dụng sáng tạo, thành công thể cáo.

    – Kết hợp giữa chính luận và trữ tình với kết cấu chặt chẽ, lập luận lôgic, sắc bén, lời văn giàu cảm xúc, câu văn giàu hình tượng.

    b) Bảng hệ thống thể loại:

    Trả lời:

    HS xem lại bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam và bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX để sắp xếp lại các thể loại văn học theo hệ thống được ghi trong bảng cho phù hợp.

    Trên cơ sở một số ví dụ, HS tiếp tục hoàn chỉnh bài tập :

    4. Phân tích nội dung yêu nước qua một số tác phẩm thơ, phú thời Trần mà anh (chị) đã học.

    Trả lời:

    Thời đại nhà Trần với những kì tích trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã làm nên những trang vàng của một giai đoạn lịch sử và làm nên vẻ đẹp riêng của một giai đoạn văn học. Nội dung yêu nước trong văn học giai đoạn này mang hào khí Đông A. Các tác giả đứng trên tầm cao của chiến công thời đại, bề dày của truyền thống lịch sử để nói lên lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc.

    – Đến với bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, ta bắt gặp hào khí Đông A qua niềm tự hào trước sức mạnh của con người và sức mạnh thời đại.

    + Con người mang lí tưởng lớn lao, cao cả, với tầm vóc, tư thế, hành động thật kì vĩ:

    Múa giáo non sông trải mấy thu.

    + Sức mạnh của thời đại, của dân tộc thể hiện qua hình ảnh :

    Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.

    + Biện pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hoá sức mạnh vật chất của ba quân, vừa hướng tới sự khái quát hoá sức mạnh tinh thần.

    Tỏ lòng vừa là nỗi lòng riêng của Phạm Ngũ Lão, vừa thể hiện xu thế chung, tất yếu của thời đại : sức mạnh, tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự chủ cho đất nước. Lời tự thuật nỗi lòng chân tình, mộc mạc nhưng đầy hào sảng.

    5. Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam có những biểu hiện rất phong phú, đa dạng. Anh (chị) hãy làm sáng tỏ điều đó qua việc phân tích nội dung Truyện Kiều của Nguyễn Du.

    Trả lời:

    Chủ nghĩa nhân đạo đã trở thành một trào lưu lớn trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX. Truyện Kiều là kết tinh tiêu biểu nhất của chủ nghĩa nhân đạo ở văn học giai đoạn này, đồng thời cũng là kết tinh tiêu biểu của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam.

    a) Truyện Kiều là tiếng nói cảm thương sâu sắc trước số phận bi kịch của con người, là tiếng nói lên án đanh thép những thế lực tàn bạo chà đạp con người.

    – Đời Kiều là “tấm gương oan khổ”, số phận Kiều hội đủ những bi kịch của người phụ nữ. Ở Kiều có bi kịch tài năng và nhan sắc, phản ánh thực tế trong xã hội cũ : “tài mệnh tương đố”, “hồng nhan bạc phận”. Tuy nhiên, hai bi kịch lớn ở Kiều là bi kịch tình yêu tan vỡ và bi kịch bị chà đạp về nhân phẩm.

    + Bi kịch tình yêu tan vỡ được thể hiện sâu sắc trong trích đoạn Trao duyên và đoạn Tái hồi Kim Trọng. Tình yêu Kim – Kiều là một tình yêu lí tưởng với “người quốc sắc, kẻ thiên tài” nhưng cuối cùng “giữa đường đứt gánh tương tư”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Tình yêu tan vỡ và không bao giờ hàn gắn được. Đoạn Tái hồi Kim Trọng nhìn hình thức là kết thúc có hậu nhưng thực chất là một bi kịch. Trong cuộc đại đoàn viên, Kiều có gặp lại người yêu nhưng không bao giờ tái ngộ tình yêu. Màn đoàn viên “có hậu” về cơ bản cũng chỉ là “một cung gió thảm mưa sầu”.

    + Kiều là người luôn có ý thức về nhân phẩm nhưng cuối cùng lại bị chà đạp về nhân phẩm. Câu đau xót nhất trong cuộc đời Kiều chính là câu : “Thân lươn bao quản lấm đầu – Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”. Có nỗi đau nào lớn hơn khi con người trọng nhân phẩm, luôn ý thức về nhân phẩm mà cuối cùng phải tuyên bố từ bỏ nhân phẩm ?

    – Bi kịch của Thuý Kiều khống chỉ nói lên “niềm cảm thông lạ lùng” (Hoài Thanh) của đại thi hào dân tộc mà còn thể hiện niềm căm phẫn, sự lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên hạnh phúc và nhân phẩm của con người. Nguyễn Du đã bóc trần bộ mặt xấu xa, nhơ bẩn của đủ các loại bợm già, bợm trẻ, bợm lưu manh, bợm quý tộc, bợm quan lại. Bợm lưu manh có bọn Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh… Bợm quý tộc, bợm quan lại, nhỏ thì như bọn sai nha “đầu trâu mặt ngựa” kéo đến đánh đập, cướp bóc gia đình Kiều, lớn thì đến mức “phương diện quốc gia” như quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến.

    b) Truyện Kiều là tiếng nói khẳng định, ngợi ca con người và những khát vọng chân chính của con người.

    – Nhân vật Thuý Kiều :

    + Kiều là hiện thân vẻ đẹp của nhan sắc, tài hoa, tâm hồn. Sắc và tài của Kiều đã đạt tới mức lí tưởng. Thể hiện vẻ đẹp, tài năng của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ của văn học cổ có phần lí tưởng hoá để trân trọng vẻ đẹp “Một hai nghiêng nước nghiêng thành – sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”. Tâm hồn đẹp đẽ của người con gái họ Vương thể hiện ở tấm lòng vị tha, nhân hậu. Khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ tới cha mẹ với những tình cảm chân thực. Nàng tưởng tượng bóng dáng tội nghiệp “tựa cửa hôm mai” của những người đã sinh dưỡng mình. Kiều day dứt khôn nguôi vì nỗi không chăm sóc được cha mẹ già : “Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ?”.

    + Kiều còn là hiện thân của khát vọng tình yêu tự do, khát vọng hạnh phúc, khát vọng về quyền sống. Khát vọng tình yêu tự do đậm màu sắc lãng mạn được thể hiện qua mối quan hệ Thuý Kiều – Kim Trọng. Mối tình Kim – Kiều vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến bằng tình yêu tự do, chủ động của hai người/ Kiều táo bạo chủ động nhưng đồng thời cũng là người thuỷ chung trong tình yêu. Ở đoạn Trao duyên, tình yêu Kim – Kiều tuy tan vỡ nhưng khát vọng về một tình yêu thuỷ chung, son sắt thì được khẳng định.

    – Nhân vật Từ Hải:

    + Từ Hải là hiện thân của khát vọng tự do. Khắc hoạ nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du luôn chú ý tới sự phi thường vượt ra ngoài khuôn khổ chế độ phong kiến từ diện mạo, tính cách đến hành động. Để miêu tả ý chí tự do, sức mạnh phi thường của Từ Hải, tác giả đã đặt nhân vật trong bối cảnh chiến trận để làm nổi bật tính cách người anh hùng :

    – Triều đình riêng một góc trời, Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà. – Trước cờ ai dám tranh cường, Năm năm hùng cứ một phương hải tần.

    + Từ Hải còn là hiện thân của khát vọng công lí chính nghĩa. Lí tưởng mà Từ “tuyên ngôn” là lí tưởng của những trang nam nhi thời phong kiến nêu cao lẽ công bằng chính nghĩa :

    Anh hùng tiếng đã gọi rằng, Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.

    Lí tưởng của Từ Hải mang tinh thần nhân văn vì nó hướng tới công lí chính nghĩa cho những người bị áp bức đau khổ. Từ Hải thông cảm, thấu hiểu khát vọng của Kiều. Chàng giúp Kiều thực hiện ước mơ công lí chính nghĩa trong tư cách con người toàn quyền chủ động, định đoạt số phận của mình : “Từ rằng việc ấy để cho mặc nàng”.

    Với Truyện Kiều, Nguyễn Du là nhà nhân đạo chủ nghĩa rất mực đề cao con người.

    6. Nhận xét sự giống nhau, khác nhau giữa các thiên sử thi: Đăm Săn (Việt Nam), Ô-đi-xê (Hi Lạp), Ra-ma-ya-na (Ấn Độ).

    Trả lời:

    Có thể nêu sự giống nhau, khác nhau giữa các thiên sử thi : Đăm Săn (Việt Nam), Ô-đi-xê (Hi Lạp), Ra-ma-ya-na (Ấn Độ) bằng cách lập bảng so sánh :

    – Khát vọng chinh phục thiên nhiên, xoá bỏ những tập tục lạc hậu vì sự hùng mạnh của bộ tộc

    – Con người hành động.

    Chủ đề : hướng tới những vấn đề chung của cả cộng đồng. Cả ba sử thi đều là bức tranh rộng lớn phản ánh hiện thực đời sống và tư tưởng con người thời cổ đại.

    Nhân vật : tiêu biểu cho sức mạnh, lí tưởng của cộng đồng ; ca ngợi những con người với đạo đức cao cả, với sức mạnh, tài năng, trí thông minh, lòng quả cảm, trong đấu tranh chinh phuc tư nhiên, chiến thắng cái ác vì chân, thiện, mĩ.

    Ngôn ngữ mang vẻ đẹp trang trọng, hình tượng nghệ thuật với vẻ đẹp kì vĩ, mĩ lệ, huyền ảo, với trí tưởng tượng phong phú, bay bổng.

    – Biểu tượng sức mạnh trí tuệ và tinh thần trong chinh phục thiên nhiên để khai sáng văn hoá, mở rộng giao lưu văn hoá.

    – Khắc hoạ nhân vật qua hành động.

    – Chiến đấu chống cái ác, cái xấu vì cái thiện, cái đẹp ; đề cao danh dự và bổn phận ; tình yêu tha thiết với con người, với cuộc đời, với thiên nhiên.

    – Con người được miêu tả ở tâm linh, tính cách.

    7. Nêu những nét đặc sắc khác nhau giữa thơ Đường (Trung Quốc) và thơ hai-cư (Nhật Bản).

    Trả lời:

    Những nét đặc sắc khác nhau giữa thơ Đường và thơ hai-cư :

    Nội dung : phong phú, đa dạng, phản ánh trung thực toàn diện cuộc sống xã hội và đời sống tình cảm của con người; nổi bật lên là những đề tài quen thuộc về thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn, người phụ nữ.

    Nghệ thuật : hai thể chính là cổ phong (cổ thể), Đường luật (cận thể) với ngôn ngữ đơn giản mà tinh luyện, thanh luật hài hoà, cấu tứ độc đáo, rất hàm súc, giàu sức gợi.

    Nội dung : ghi lại phong cảnh với vài sự vật cụ thể, ở một thời điểm nhất định trong hiện tại, từ đó khơi gợi một cảm xúc, suy tư sâu sắc nào đó.

    Nghệ thuật : gợi là chủ yếu, sự mơ hồ dành một khoảng không to lớn cho trí tưởng tượng của người đọc. Ngôn ngữ rất cô đọng, cả bài chỉ trên dưới 17 âm tiết trong khoảng mấy từ. Tứ thơ hàm súc và giàu sức gợi.

    8. Bài tập 7, trang 149, SGK.

    Ôn tập phần Lí luận văn học, HS cần năm slaij những khái niệm cơ bản về văn bản văn học đồng thời biết vận dụng nhứng kiến thức đã học để tìm hiểu, phân tích các tác phẩm văn học. HS có thể ôn tập theo những câu hỏi sau :

    a) Những tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học là gì ?

    b) Nêu những tầng cấu trúc của văn bản văn học.

    c) Trình bày những khái niệm thuộc về nội dung và những khái niệm thuộc về hình thức của văn bản văn học. Cho một số ví dụ để làm sáng tỏ.

    d) Nội dung và hình thức của văn bản văn học có quan hệ với nhau như thế nào ? Cho một số ví dụ để làm sáng tỏ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập 1: Trang 124 Sgk Ngữ Văn 10 Tập Hai
  • “tiếng Cười Trở Thành Vũ Khí Tinh Thần Quan Trọng Vực Dậy Tinh Thần Của Nhân Dân Từ Hiện Thực Còn Tồn Tại Nhiều Bất Công Ngang Trái”. Phân Tích Các Truyện Cười Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 10 (Tập 1) Để Làm Rõ Ý Kiến Trên
  • Soạn Bài Văn Bản Văn Học
  • Câu 1: Trang 121 Sgk Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Bài Tập: Trang 121 Sgk Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Ý Nghĩa Văn Chương Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Văn Chương Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2 Trang 49 Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Trả Bài Tập Làm Văn Số 7 Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Bài 6.9, 6.10, 6,11 Trang 21, 22 Sbt Vật Lý 8: Lực Ma Sát Nghỉ Tác Dụng Lên Vật Khi Đó Có…
  • Giải Bài Tập Giải Sbt Vật Lí 8 Bài 21: Nhiệt Năng
  • Giải Bài 2.9, 2.10, 2.11, 2.12 Trang 8 Sách Bài Tập Vật Lí 9
  • Giải câu 1, 2, 3 trang 49 Sách bài tập (SBT) Ngữ Văn 7 tập 2. Ví thử có người chưa hiểu thế nào là “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương” muốn nhờ em giải thích, em sẽ nói gì ?

    Bài tập 1. Ví thử có người chưa hiểu thế nào là “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương” muốn nhờ em giải thích, em sẽ nói gì ? 2. Hoài Thanh viết : “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Em hãy giải thích và chứng minh ý kiến đó bằng cách nói rõ Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca – trích) của Nguyễn Trãi đã gây cho ta “những tình cảm ta không có”, “luyện những tình cảm ta sẵn có” như thế nào ? 3. Ví thử có người hỏi em rằng trong đoạn văn Ý nghĩa văn chương của nhà văn Hoài Thanh, những ý cơ bản nhất là gì thì em sẽ trả lời thế nào ? Gợi ý làm bài

    1. a) Cần hiểu muc đích của bài tập là nhằm bước đầu rèn luyện ý thức coi trọng lí thuyết và năng lực hiểu được lí thuyết, hiểu được khái niệm là công cụ để nhận thức văn học. Mặt khác, đây còn là bước đầu tập giải thích, trình bày một vấn đề cho người khác hiểu.

    – Với bài tập này, mới đọc qua có thể nghĩ là khó, nhưng khó hay không khó còn tuỳ thuộc vào mức độ yêu cầu được đặt ra và cách thức hướng dẫn thực hiện yêu cầu đó. Ở đây, mức yêu cầu chỉ cần sơ bộ hiểu thế nào là “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương”, để từ đó có thể nói lại cho người khác hiểu, dĩ nhiên cũng ở mức đơn giản, bước đầu.

    – Cần chú ý rằng việc hiểu lí thuyết phải đi đôi với khả năng kiểm nghiệm lí thuyết qua việc phân tích tác phẩm cụ thể. Có như thế thì sự hiểu biết lí thuyết mới đạt đến độ cần có. Trong khi giải thích lí thuyết cho người khác hiểu cũng phải có dẫn chứng xác đáng trên cơ sở phân tích một vấn đề, một tác phẩm văn học cụ thể. Có thế, người nghe mới hiểu rõ.

    b) Để làm bài tập này, hãy chuẩn bị trước những hoạt động sau đây :

    + Đoạn 1 : “Một người hằng ngày chỉ cặm cụi lo lắng vì mình… há chẳng phải là chứng cớ cho cái mãnh lực lạ lùng của văn chương hay sao ?”.

    + Đoạn 2 : “Có kẻ nói từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non… Lời ấy tưởng không có gì là quá đáng…”.

    + Với đoạn 1, đó là trạng thái tình cảm, cảm xúc của người ta trước và sau khi “xem truyện” (cũng có nghĩa là xem văn chương nói chung) là thế nào, để từ đó suy ra sự tác động của văn chương đến người đọc.

    + Với đoạn 2, hãy chú ý đến sự khác nhau về giá trị của “cảnh núi non, hoa cỏ”, khi chưa có và khi đã có thi sĩ ca tụng. Từ đó, suy ra một phương diện khác của tác động văn chương với cái gọi là “mãnh lực lạ lùng” của nó.

    – Chọn một tác phẩm (ví dụ : đoạn thơ Sau phút chia li trong Chinh phụ ngâm khúc hoặc bài thơ Qua Đèo Ngang,…) để phân tích, chứng minh cho những gì em đã hiểu, về cái “mãnh lực lạ lùng của văn chương”.

    – Đọc lại hai đoạn văn trên và chỉ ra những ý chính về “cái mãnh lực lạ lùng của văn chương”.

    – Lấy vài dẫn chứng trong một tác phẩm nào đó để phân tích, minh hoạ.

    a) Trước hết, cần nhận thức mục đích của bài tập này là nhằm rèn luyện kĩ năng vận dụng lí thuyết vào việc hiểu tác phẩm văn học cụ thể, để từ đó nâng cao chất lượng học tập trên cả hai phương diện : lí thuyết và hiểu biết tác phẩm.

    c) Từ việc hiểu ý kiến của Hoài Thanh, em hãy đôi chiếu, kiểm tra lại thực trạng tình cảm của mình trước và sau khi học “Bài ca Côn Sơn ” của Nguyễn Trãi, ghi lại những điều gì trước chưa có, nay mới có, trước “sẵn có” nhưng còn mờ nhạt, nay rõ nét hơn, thấm thìa hơn. (Ví dụ 1 : Trước, em chưa hề biết gì về Côn Sơn, do đó chưa hề thích thú gì nơi này. Nay nhờ học đoạn thơ mà bắt đầu biết Côn Sơn là một thắng cảnh, nơi mà người anh hùng kiêm đại thi hào Nguyễn Trãi đã có nhiều năm tháng gắn bó, lại có “Bài ca Côn Sơn ” hấp dẫn tuyệt vời, vì vậy em yêu thích và khát khao được đến Côn Sơn để tham quan, để thưởng ngoạn cảnh đẹp, chiêm ngưỡng di tích lịch sử. Đó là thuộc tình cảm “không có”, nay nhờ văn chương mà có. Ví dụ 2 : Trước, em đã thích nghe tiếng suối chảy róc rách, nay sau khi học “Bài ” em hình dung “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” – nghĩa là nghe tiếng suối như tiếng đàn, thì việc nghe tiếng suối chắc chắn sẽ càng thích thú hơn). Đó là trường hợp tình cảm đã “sẵn có” nhưng nhờ văn chương mà “luyện” cho thích thú hơn.

    d) Dựa theo các ví dụ trên, có thể tiếp tục nêu lên những nội dung tình cảm, những điều lí thú khác mà đoạn thơ trích “Bài ” đã đưa đến cho em từ chỗ “không có” mà có, “sẵn có” mà có thêm.

    3. – Cần thấy mục đích của bài tập này là nhằm rèn luyện năng lực đọc văn bản mà yêu cầu quan trọng nhất là phải nhận ra được đâu là những ý chính của văn bản, để từ đó mà nhớ. Một nguyên tắc cần biết nữa là : để nhớ được nội dung một vấn đề, điều cần nhất là phải nhớ được những ý chính rồi từ đó mà nhớ thêm ý phụ được chừng nào hay chừng ấy.

    – Cách làm : Hãy đọc đi đọc lại nhiều lần đoạn văn và dùng bút chì gạch dưới những câu chữ mà mình cho là ý chính. Xong một lần, lại đọc lại và kiểm tra xem đã thật đúng chưa, đủ chưa. Nếu chưa thì bổ sung thêm. Ví như ở bài Ý nghĩa văn chương này thì hướng trả lời về những ý chính là :

    + “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài” ;

    + “Văn chương sẽ là hình dung của sư sống muôn hình vạn trạng” ;

    + “Văn chương còn sáng tạo ra sự sống” ;

    + “mãnh lực lạ lùng của văn chương” ;

    + “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có” ;

    + “luyện những tình cảm ta sẵn có” ;

    + “N ế u trong pho lịch sử loài người… nghèo nàn sẽ đến bực nào ! …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ý Nghĩa Văn Chương Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư (Vọng Lư Sơn Bộc Bố)
  • Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư
  • Soạn Bài: Xa Ngắm Thác Núi Lư (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư (Vọng Lư Sơn Bộc Bố) Sbt Văn 7 Tập 1 Trang 72…
  • Giải Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt (Tiếp Theo) Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4 Trang 106…
  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt (Tiếp Theo) Sbt Văn 7 Tập 1: Giải Câu Hỏi Trang 140, 141
  • Soạn Bài Quá Trình Tạo Lập Văn Bản
  • Soạn Bài Quá Trình Tạo Lập Văn Bản (Ngắn Gọn)
  • Giải câu 1, 2 trang 98 Sách bài tập (SBT) Ngữ Văn 7 tập 2. Qua hai năm học Ngữ văn theo hướng tích hợp, em hãy cho biết học Ngữ văn theo hướng tích hợp là như thế nào ?

    Bài tập

    1. Qua hai năm học Ngữ văn theo hướng tích hợp, em hãy cho biết học Ngữ văn theo hướng tích hợp là như thế nào ?
    2. Tìm một vài dẫn chứng trong SGK Ngữ văn 6 (tập một, tập hai), Ngữ văn 7 (tập một, tập hai) và nói rõ sự tích hợp đã được thể hiện ở đó như thế nào.

    Gợi ý làm bài

    1. Trước hết cần thấy dạy và học Ngữ văn theo hướng tích hợp là một sự cải tiến, một điều mới mà các em đã và đang thực hiện ở THCS. Do đó, việc nhận thức về tính chất tích hợp của Chương trình Ngữ văn không chỉ là việc của thầy, cô giáo mà còn là của HS. Riêng HS hiểu thế nào là tích hợp (dĩ nhiên ở mức độ đơn giản) sẽ là một trong những điều kiện để nâng cao chất lượng học tập Ngữ văn, nhất là sau hai năm đã được học theo hướng tích hợp đó.

    Bài tập này chính là nhằm thực hiện những yêu cầu trên.

    2. Cụ thể ở bài tập này, em phải đáp ứng hai yêu cầu sau :

    a) Định nghĩa được thế nào là tích hợp nói chung, tích hợp trong bộ môn Ngữ văn nói riêng. Để thưc hiện yêu cầu này, em hãy đọc lại Lời nói đầu ở SGK Ngữ văn 6, tập một.

    b) Tìm một vài dẫn chứng trong SGK Ngữ văn 6, 7 đã thể hiện sự tích hợp (nhiều hoặc ít), có thể thuộc một trong ba trạng thái sau :

    – Tích hợp giữa Tiếng Việt và Văn.

    – Tích hợp giữa Tập làm văn và Văn.

    – Tích hợp giữa Tiếng Việt, Tập làm văn, Văn.

    (Để làm tốt yêu cầu này, trước hết, em hãy tìm những điểm giống nhau về nộỉ dung giữa các phần : Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn.

    Từ việc tìm hiểu quan hệ chung đó, em chọn một số dẫn chứng đã thể hiện tính chất tích hợp giữa các phần học trong SGK. Ví dụ : Bài 29 trang 123, SGK Ngữ văn 6, tập hai : Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn
  • Soạn Bài Ôn Tập Văn Nghị Luận Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Văn 7 Tập 1 Trang 20; Tìm Hiểu Tính Mạch Lạc Trong Văn Bản Viết Về Phong Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa Của Nhà Văn Tô Hoài
  • Giải Soạn Bài Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Giải Sbt Toán 7 Bài 3: Biểu Đồ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1, 2, 3, 4 Trang 99, 100 : Bài 1 Hai Góc Đối Đỉnh
  • Giải Sbt Toán 7 Hai Góc Đối Đỉnh.
  • Giải Sách Bài Tập Toán 7 Bài 6: Tam Giác Cân
  • Giải Sách Bài Tập Toán 7 Bài 8: Các Trường Hợp Bằng Nhau Của Tam Giác Vuông
  • Giải Sbt Toán 7 Bài 4: Hai Đường Thẳng Song Song
  • Giải SBT Toán 7 Bài 3: Biểu đồ

    Bài 8 trang 8 sách bài tập Toán 7 Tập 2: Biểu đồ dưới biểu diễn kết quả của học sinh trong một lớp qua một bài kiểm tra. Từ biểu đồ đó hãy:

    a. Nhận xét

    b. Lập lại bảng “tần số”

    Lời giải:

    a. Nhận xét:

    – Đa số học sinh đạt từ trung bình trở lên

    – Lớp chủ yếu là học sinh khá

    b. Bảng tần số:

    Hãy vẽ biểu đồ đoạn thẳng và nhận xét.

    Lời giải:

    Biểu đồ:

    Nhận xét: Lượng mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9.

    Bài 10 trang 9 sách bài tập Toán 7 Tập 2: Có 10 đội bóng tham gia một giải bóng đá. Mỗi đội đều phải đá lượt đi và lượt về với từng đội khác.

    a. Một đội phải đá bao nhiêu trận trong suốt giải?

    Hãy vẽ biểu đồ đoạn thẳng

    c. Có bao nhiêu trận đội bóng đó không ghi được bàn thắng?

    Có thể nói đội bóng này đã thắng 16 trận không?

    Lời giải:

    a. Vì mỗi đội phải đá với 9 đội còn lại cả đi và về là 2 trận nên mỗi đội phải đá: 9.2 = 18 trận

    b. Biểu đồ đoạn thẳng:

    c. Có hai trận đội đó không ghi được bàn thắng. Không thể nói rằng đội này đã thắng cả 16 trận.

    Bài 3.1 trang 9 sách bài tập Toán 7 Tập 2: Diện tích rừng trồng tập trung của tỉnh Quảng Ninh trong một số năm, từ năm 1000 đến năm 2008 (tính theo nghìn ha) được cho trong bảng sau:

    b) Năm 2006 tỉnh Quảng Ninh trồng được bao nhiêu nghìn ha rừng?

    c) Biểu diễn bằng biểu đồ hình chữ nhật.

    d) Nhận xét về tình hình trồng rừng của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian từ năm 2000 đến nằm 2008.

    Lời giải:

    a) Diện tích rừng trồng tập trung trong một năm của tỉnh Quảng Ninh.

    b) 13,2 nghìn ha

    c) Hướng dẫn vẽ:

    d) Diện tích rừng trồng của tỉnh Quảng Ninh tăng dần từ năm này qua năm khác (không kể các năm 2001, 2002, 2003 vì không có số liệu)

    Bài 3.2 trang 10 sách bài tập Toán 7 Tập 2: Kết quả phân loại trình độ học tập khi kết thúc năm học 2006 – 2007 của toàn bộ học sinh trường THCS Nguyễn Trãi như sau:

    – Loại kém 5%;

    – Loại yếu 15 %;

    – Loại trung bình 55 %;

    – Loại khá 20%;

    – Loại giỏi 5%;

    Hãy biểu diễn kết quả trên bằng biểu đồ hình chữ nhật.

    Lời giải:

    Hướng dẫn vẽ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Sbt Toán 7 Bài 6: Tam Giác Cân
  • Giải Toán Lớp 7 Bài 6: Cộng, Trừ Đa Thức
  • Giải Bài Tập Sbt Toán 7 Bài 6: Cộng Trừ Đa Thức
  • Giải Sbt Toán 7 Ôn Tập Chương 2
  • Giải Sbt Toán 7 Ôn Tập Chương 1 Phần Đại Số
  • Giải Soạn Bài Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Văn 7 Tập 1 Trang 20; Tìm Hiểu Tính Mạch Lạc Trong Văn Bản Viết Về Phong Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa Của Nhà Văn Tô Hoài
  • Giải Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Soạn Bài Ôn Tập Văn Nghị Luận Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn
  • Giải Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Ngày xưa, trên hòn đảo Crét của Hi Lạp, nảy sinh một con quái vật đầu người mình bò vô cùng hung ác. Vua của hòn đảo đó đã phải cho xây một mê cung để nhốt nó vào trong. Tuy nhiên, hàng năm, vẫn có những nam nữ thanh niên thành A-ten bị cống nạp cho con quái vật kia ăn thịt. Để diệt trừ tận gốc tai hoạ, một người anh hùng tên là Tê-dê quyết đi vào mê cung…

    Chắc em đoán ra ngay : chàng Tê-dê sẽ chiến thắng con quỷ dữ. Nhưng vẫn còn vấn đề : Tê-đê làm sao thoát khỏi mê cung, nơi đã vào thì không thể nào biết được lối ra ?

    Chuyện kể rằng : Tê-dê may mắn được công chúa A-ri-an của hòn đảo đó đem lòng yêu dấu. Nàng công chúa ấy dã trao cho Tê-dê một cuộn chỉ, để khi vào mê cung, Tê-dê đi đến đâu thì sẽ gỡ dần cuộn chỉ ra đến đó. Và cuộn chỉ của A-ri-an đã giúp chàng nhận ra được con đường thoát khỏi mê cung sau khi giết xong quái vật.

    Do đó, câu chuyện về cuộn chỉ A-ri-an có thể gợi ra ý nghĩ : Văn bản không mạch lạc thì cũng chẳng khác nào Tê-dê không có cuộn chỉ kia. Tê-dê sẽ không thể ra khỏi mê cung nếu không có cuộn chỉ của nàng công chúa đó. Tương tự thế, một văn bản sẽ có nguy cơ trở thành mê cung, nếu thiếu sợi chỉ đỏ xuyên suốt có tên là mạch lạc mà người đọc (người nghe) có thể nắm lấy và lần theo, để dần hiểu ra điều cốt lõi đã được người viết (người nói) gửi gắm trong văn bản.

    2. Tìm hiểu tính mạch lạc trong văn bản viết về phong cảnh làng mạc ngày mùa của nhà văn Tô Hoài (in ở trang 33-34, SGK). Trả lời:

    Để làm được bài tập này, em cần phải :

    a) Đọc kĩ văn bản để nhận ra ý tứ chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ đoạn văn (sắc vàng trù phú, đầm ấm của làng quê vào lúc chớm đông, giữa ngày mùa).

    b) Cách dẫn dắt ý tứ ấy theo một “dòng chảy” hợp lí : đầu tiên, giới thiệu bao quát về màu vàng trong thời gian và trong không gian ; tiếp đó, tả lại những sắc độ khác nhau trong từng sự vật, hiện tượng cụ thể trong thời gian và không gian đó ; cuôì cùng là nhận xét, cảm xúc chung. Nhờ có cái dòng chảy hợp lí, thông suốt ấy mà đoạn văn trở nên mạch lạc.

    3. Bài tâp 1, trang 34, SGK. Trả lời:

    Cần xem xét kĩ : Tác giả muốn kể về chuyện gì là chính ? Cuộc chia tay giữa người bố với người mẹ, cuộc chia tay giữa bố mẹ và con cái, hay là cuộc chia tay của hai đứa trẻ và của hai con búp bê ? Chỉ khi nắm chắc điều đó, em mới có thể trả lời chính xác câu hỏi được nêu trong bài tập.

    4. Hùng khoe với Tuấn rằng mình đã xem trước và có thể đọc thuộc lòng bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến trong SGK :

    Đã bấy lâu nay, bác tới nhà,

    Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

    Cải chửa ra cây, cà mới nụ,

    Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

    Ao sâu nước cả, khôn chài cá,

    Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

    Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

    Bác đến chơi đây, ta với ta.

    Tuấn cười bảo : Chỉ xét về mặt mạch lạc trong văn bản thôi thì cũng có thể chắc chắn rằng Hùng đã đọc sai. Dứt khoát nhà thơ phải nói không có cá thịt trước, rồi mới nói không có rau dưa sau ; do đó, hai câu “Cải chửa ra cây… mướp đương hoa” không thể nào đặt trước hai câu “Ao sâu nước cả… khó đuổi gà” như Hùng đọc được.

    Em thấy ý kiến của Tuấn có lí hay vô lí ? Vì sao ? Trả lời:

    Dễ thấy rằng, trong bài thơ, sự thiếu thốn về vật chất được kể theo một trình tự tăng dần : Chợ ở xa, người có thể đi chợ lại vắng. Nhìn quanh trong nhà thì đã không có cá thịt, lại không có rau dưa, đến miếng trầu đãi khách cũng không có nốt. Nếu đã nói không có rau ăn rồi lại còn phân trần là mình cũng chẳng có thịt cá đâu thì thật vô lí và cũng … vô duyên. Một thi hào như Nguyễn Khuyến chắc chắn không thể để mình rơi vào tình trạng đó. (Đấy là chưa kể rằng, như sau này các em sẽ học, cách đọc của Hùng còn làm cho bài thơ trở nên sai luật.)

    5. Một bạn nhỏ người Tuy-ni-di đã viết cho người mẹ của mình những lời thiết tha, đau đớn như sau :

    Ôi mẹ, mẹ là nguồn gốc gây ra nỗi đau khổ của con, mẹ là nguyên nhân đẩy con đến cùng đường. Mẹ đã đẩy con thành đứa trẻ mồ côi, thật vậy, vì đứa trẻ mồ côi không phải là bố mẹ chúng đã qua đời… ; không, trẻ mồ côi là đứa con mà mẹ nó đã từ bỏ chức năng làm mẹ hay là đứa con mà bố nó bị ai đó chiếm đoạt. Mẹ, khi mà mẹ đã không có hạnh phúc trong cuộc sống với bố con và không chịu được sự chuyên chế của ông, mẹ đã hủy hoại đời con. Có phải con đã không đáng được mẹ hi sinh đời mình ?

    (Theo Những bức thư đoạt giải UPU)

    Có bạn cho đây là một bức thư không thật mạch lạc, vì hai ý trong bức thư này rời rạc, mâu thuẫn với nhau. Nhận xét như thế có đúng không ? Vì sao ?

    Đoạn thư nói đến hai tình cảm khác nhau, nhưng đều thể hiện một tình yêu chung, tình yêu đớn đau của đứa con bất hạnh đối với người mẹ đã bỏ rơi mình. Hai ý ấy gắn bó chặt chẽ với nhau trong một mối liên hệ ý nghĩa tương phản (đã được nói đến trong SGK).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Giải Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Giải Soạn Bài Dấu Chấm Lửng Và Dấu Chẩm Phẩy Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Bài Liệt Kê Sbt Văn 7 Tập 2 Trang 85: Hãy Chỉ Ra Phép Liệt Kê Ấy Và Cho Biết Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Nó
  • Giải Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Giải Soạn Bài Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Văn 7 Tập 1 Trang 20; Tìm Hiểu Tính Mạch Lạc Trong Văn Bản Viết Về Phong Cảnh Làng Mạc Ngày Mùa Của Nhà Văn Tô Hoài
  • Giải Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Soạn Bài Ôn Tập Văn Nghị Luận Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • 1. Bài tập 1, trang 18, SGK.

    Trả lời:

    Phần Ghi nhớ trong SGK đã nêu rõ, “để văn bản có tính liên kết” thì :

    – Nội dung của các câu (đoạn) phải thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau.

    – Các câu (đoạn) phải được nối với nhau bằng những từ (câu) thích hợp.

    Dựa vào đó, có thể dễ dàng tìm ra : thứ tự hợp lí của các câu được dẫn trong bài tập phải là (l)-(4)-(2)-(5)-(3).

    2. Bài tập 2, trang 19, SGK.

    Trả lời:

    Cần xét xem :

    – Vì sao SGK gợi ý : Về hình thức, các câu văn này có vẻ rất “liên kết” (câu sau có các từ nhắc lại những từ ngừ đã dùng trong câu,trước, hoặc có các từ dùng để nối với câu trước).

    3. Bài tập 5, trang 19, SGK.

    Trả lời:

    Dễ thấy rằng, để có một văn bản, ta cần phải :

    a) Có những câu (đoạn) thích hợp, tựa như anh trai cày trong truvện Cây tre trăm đốt, để có cây tre thì trước nhất, phải có những đốt tre (mà phải đúng là đốt của cây tre, có thể làm thành cây tre, chứ không thể là của một loài cây nào khác).

    b) Nhưng chỉ thế thôi chưa đủ. Trong truyện cổ, anh trai cày sẽ không thể có cây tre, nếu không được Bụt dạy cách hô “khắc nhập” để nối các đốt tre. Việc làm văn cũng thế. Người tạo lập văn bản phải biết cách làm cho các câu (đoạn) văn của mình nối liền với nhau, gắn chặt vào nhau, để trở thành một khối ý nghĩa thống nhất, rõ ràng, chặt chẽ, khiến người đọc (nghe) dễ dàng tiếp nhận về mặt đó, có thể thấy, việc nắm được phép liên kết văn bản cũng có tầm quan trọng tương tự như việc biết được phép màu làm cho các đốt tre rời rạc trở nên một cây tre thật sự tốt tươi.

    Trả lời:

    “Đến người viết những câu này cũng không hiểu mình nói gì nữa là người đọc” là một cách nói để chứng tỏ mấy “câu văn cộc lốc” ấy là vô cùng tối tăm, khó hiểu. Bởi theo nhà văn Nguyễn Công Hoan, các câu đó :

    – Thiếu một sợi dây tư tưởng để chúng có thể mang một nội dung ý nghĩa thống nhất. Nói cách khác, các câu đó không có sự liên kết về mặt nội dung.

    – Là các câu “cóc nhảy”, tức là đứt quãng, không liền mạch, không kết dính được với nhau. Giữa các câu đó không có cả sự liên kết về hình thức.

    5. Một bạn đã kể tóm tắt văn bản Mẹ tôi (Bài 1 – SGK) như sau :

    Em ấy đã có những lời nói thiếu lễ độ với mẹ mình. Người bố đã gửi cho con một bức thư. Tác giả Ét-môn-đô đơ A-mi-xi đã cho ta thấy hình ảnh một người phụ nữ sẵn sàng hi sinh hết thảy vì hạnh phúc của con mình. Bố của En-ri-cô rất giận En-ri-cô vì em đã dám xúc phạm một con người cao quý, một người rất thương yêu em. En-ri-cô bị buộc phải xin lỗi mẹ và hứa sẽ không bao giờ được làm như thế nữa.

    Hãy so sánh với văn bản Mẹ tôi và cho biết, bản tóm tắt có những lỗi nào khiến cho nó lủng củng và khó hiểu.

    Trả lời:

    Lời tóm tắt trên không sai nội dung văn bản Mẹ tôi trong SGK nhưng rất lủng củng, khó hiểu. Nguyên nhân chủ yếu là vì không có các từ ngữ thích đáng để liên kết các câu văn lại với nhau.

    Có thể thay đổi.một số từ ngữ trong bản tóm tắt đó để cho các câu văn liên kết được và bản tóm tắt trở nên hiểu được. Có thể tham khảo bản tóm tắt sau :

    Cậu bé En-ri-cô đã có những lời nói thiếu lễ độ với mẹ mình. Vì thế, bô’của En-ri-cô đã gửi cho em một bức thư. Bức thư của ông đã làm hiện lên hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, một người phụ nữ sẵn sàng hi sinh hết thảy vì hạnh phúc của con mình. Bố của En-ri-cô rất giận En-ri-cô vì em đã dám xúc phạm một con người cao quý đến thế một người thương yêu em đến thế. Ông buộc En-ri-cô phải xin lỗi mẹ và hứa sẽ không bao giờ được làm như thế nữa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Giải Soạn Bài Dấu Chấm Lửng Và Dấu Chẩm Phẩy Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Bài Liệt Kê Sbt Văn 7 Tập 2 Trang 85: Hãy Chỉ Ra Phép Liệt Kê Ấy Và Cho Biết Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Nó
  • Giải Soạn Bài Liệt Kê Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Chương Trình Địa Phương (Phần Văn Và Tập Làm Văn) Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Bố Cục Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Trả Bài Kiểm Tra Tổng Hợp Cuối Năm Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4 Trang 73…
  • Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư (Vọng Lư Sơn Bộc Bố) Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư (Vọng Lư Sơn Bộc Bố) Sbt Văn 7 Tập 1 Trang 72…
  • Soạn Bài: Xa Ngắm Thác Núi Lư (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Xa Ngắm Thác Núi Lư
  • Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 16 SBT Ngữ Văn 7 tập 1. Tìm bố cục của bài thơ ngụ ngôn Lão nông và các con (văn bản in ở trang 33, SGK).

    1. Bài tập 1, trang 30, SGK. Trả lời:

    Để làm được bài tập này, HS cần chú ý quan sát, ghi nhớ (hoặc ghi chép lại, nếu cần) và phân tích, nhận xét những lời nói (bài viết) của mình, của những người xung quanh hoặc những gì mà mình đã nghe (đọc) được trong thực tế sống và học tập.

    2. Tìm bố cục của bài thơ ngụ ngôn Lão nông và các con (văn bản in ở trang 33, SGK). Trả lời:

    Cần chú ý làm tốt cả hai công việc chính :

    a) Chia đoạn : Hãy xét xem, trong bài thơ Lão nông và các con, 2 câu đầu và 4 câu cuối khác với những câu còn lại và khác với nhau ở chỗ nào ? Từ đó, có thể cho rằng tác phẩm cũng được viết ra theo cách bố cục quen thuộc, với 3 phần mở, thân và kết bài được hay không ?

    b) Đánh giá : Hãy xét xem, những câu nêu lên tư tưởng chung của toàn bài có đòi hỏi một sự minh hoạ cụ thể, rõ ràng ở phần kế tiếp không ? Rồi sau đó, có cần phải có một phần kết thúc để chứng tỏ câu chuyện ở phần thứ hai là hoàn toàn phù hợp với chân lí được nêu ở phần thứ nhất hay không ? Và từ đó, có thể cho rằng bài thơ đã có một bố cục thực sự hợp lí và chặt chẽ hay không ?

    3. Bạn Trịnh Phương Mai, học sinh Trường THPT Hà Nội – Am-xtéc-đam đã viết bài thơ kể lại một câu chuyện ngụ ngôn như sau : THẦY BÓI XEM VOI

    Có năm ông thầy bói

    Rủ nhau đi xem voi.

    Thầy thứ nhất sờ vòi,

    Bảo rằng : voi giống đỉa.

    Thầy thứ hai mai mỉa :

    “Voi giống đỉa là sao ?

    Nó sừng sừng to cao

    Như cột đình ấy chứ”.

    Thầy thứ ba hậm hự :

    “Chú ăn nói lạ kì !

    Voi chần chẫn khác gì

    Cái đòn càn gánh rạ !”.

    Thầy thứ tư buồn bã :

    “Các bác bảo thế nào,

    Voi tun tủn làm sao

    Giống hệt như chổi xể !”.

    Thầy thứ năm nhỏ nhẹ :

    “Các anh sai cả rồi,

    Tôi sờ nắn một hồi

    Thấy voi nh ư cái quạt !”.

    Cả năm ông nháo nhác,

    Xỉa xói, đánh cãi nhau.

    Đến mẻ trán bươu đầu,

    Không ai chịu thua cuộc.

    Nực cười thay năm ông thầy bói

    Kẻ sờ vòi, người mới sờ tai.

    Thế mà dám phán mới tài,

    Chúng ta được một ở hài nghe chơi.

    Ngẫm ra : đây chuyện răn đời !

    Có thể coi bài thơ này cũng có bố cục ba phần giống với bài thơ Lão nông và các con không ? Vì sao ? Trả lời:

    Thử đánh giá xem nhận xét sau đây có đúng không :

    So với bài thơ Lão nông và các con, bài Thầy bói xem voi của bạn Phương Mai không có đoạn giới thiệu tư tưởng chung trước khi đi vào kể chuyện.

    4. Bài tập 3, trang 30-31, SGK. Trả lời:

    Cần đọc kĩ bố cục được nêu trong bài tập để :

    a) Xét xem đó đã thật đúng là một bản báo cáo kinh nghiệm học tập chưa (ví dụ : các điểm (1), (2), (3) của Thân bài là kể về việc học tốt của bản thân hay là sự trình bày kinh nghiệm học tốt ; còn điểm (4) có phải là nói về việc học tập hay không) ?

    b) Từ đó, suy nghĩ xem một bản trình bày kinh nghiệm học tập cần được bố cục thế nào (ngoài lời chào mừng, ở phần Mở bài, có cần phải giới thiệu về bản thân không ; phần Thân bài có cần được sắp xếp theo cách lần lượt nêu từng kinh nghiệm đã được rút ra từ thực tế học tập không, và sau đó, có cần nêu cụ thể tác dụng tốt của những kinh nghiệm ấy hay không ; còn ở Kết bài, trước khi chúc Hội nghị thành công, có cần nói lên nguyện vọng muốn được các bạn trao đổi, góp ý cho bản báo cáo của mình không).

    5. Với đề bài Em hãy kể lại câu chuyện về chú bé Lượm theo đúng nội dung và ngôi kể như trong bài thơ Lượm của nhà thơ Tố Hữu, bạn em định xây dựng bố cục cho bài viết của mình như sau :

    (I) Mở bài : Giới thiệu chung về Lượm và về nỗi thương tiếc đối với chú bé liên lạc ấy.

    (II) Thân bài : Kể lại câu chuyện về chú bé hồn nhiên và anh dũng :

    (1) Qua hồi ức về cuộc gặp gỡ giữa hai chú cháu ở Huế trong những ngày đầu kháng chiến.

    (2) (…)

    (III) Kết bài : Cảm nghĩ của người kể chuyện : xót thương, cảm phục và không thể nào quên hình ảnh của người thiếu niên ngây thơ mà dũng cảm.

    Hãy điền vào chỗ có dấu (…) một ý thích hợp, để làm cho bố cục bài trở nên đầy đủ, rành mạch và hợp lí. Trả lời:

    Đọc lại thật kĩ bài thơ Lượm để xem có (hay không) nên điền ý sau đây vào chỗ có dấu (…) : Qua lời kể về giờ phút hi sinh đẹp đẽ, thiêng liêng của Lượm trong chiến đấu.

    Tham khảo bài viết sau :

    Nhiều ngày đã trôi qua, nhưng sao lòng tôi vẫn không thể nguôi ngoai được. Cái chết của chú bé liên lạc ấy cứ làm con tìm tôi xao động mãi trong niềm mến yêu và thương xót. Lượm ơi ! ! !

    Ngày ấy, cứ như là chỉ mới đâv thôi, tôi từ Hà Nội về, và tình cờ làm sao, hai chú cháu tôi lại gặp nhau trên đất cố đô đang đổ máu. Ôi, hình ảnh của chú bé Lượm lúc ấy sao mà hồn nhiên, đáng yêu đến thế ! Dáng người loắt choắt, chiếc xắc xinh xinh đeo chéo người càng như làm cho Lượm thêm nhỏ lại. Chiếc mũ ca-lô đội lệch trên cái đầu nghênh nghênh thật dễ yêu, miệng huýt sáo không ngừng, đôi chân thoăn thoắt, trông Lượm của tôi sao giống với chú chim chích kia, chú chim đang lách chách nhảy trên con đường quê tràn ngập màu vàng của rơm và của nắng.

    – Cháu đi liên lạc, vui lắm chú à !

    Lượm nói với tôi, giọng ngây thơ và trong sáng như không hề biết tới những hiểm nguy đang rình rập. “Ở đồn Mang Cá thích hơn ở nhà”, cháu nói những lời ấy, và môi cháu nở nụ cười. Ồ, cái nụ cười thánh thiện và trong ngần đến nỗi tôi dám chắc kẻ nào đang tâm làm tắt một nụ cười như thế dưới làn súng đạn thì kẻ đó đã không còn là một con người…

    Rồi cháu chào tôi, và lại đi, để lại trong tôi hình ảnh một đôi má bầu bĩnh, đỏ hồng như quả bồ quân, đôi má của một tiên đồng…

    Thế rồi, bẵng đi một thời gian, tôi không có tin tức gì của đứa cháu yêu thương. Cho đến một hôm… Một đồng chí từ trong đó lặn lội ra đây và đã cho tôi biết tin sét đánh :

    Một ngày, ngày ấy cũng bình thường như bao ngày khác, bé Lượm lại lên đường đi liên lạc với bao thư ở bên người. Chỉ khác là hôm ấy, cháu phải chuyển một lá thư “thượng khẩn”. Và Lượm đi, vẫn hồn nhiên như thế, tưởng chừng những viên đạn bay vèo vèo nơi chiến trận chẳng khiến cháu bận tâm. Rồi Lượm đến một cánh đồng vắng vẻ, với những chẽn lúa trổ đòng đòng. Nào có ngờ đâu, từ nơi tưởng chừng bình yên ấy, một ánh chớp đỏ bỗng loè lên ! Thôi rồi ! Phát súng hèn nhát đã cướp đi sự sống của chú bé liên lạc đáng yêu, xinh xắn. Lượm ơi !

    Cháu nằm đó, vẫn đẹp đẽ và tươi tắn như ngày nào, trên cánh đồng quê ta lúa thơm mùi sữa. Lượm của tôi đã ra đi !

    Nhưng không, lúc này đây, trong tôi, hình ảnh Lượm vẫn hiện lên trước mắt. Tôi vẫn thấy cháu tôi, chú bé liên lạc nhỏ nhắn với chiếc xắc xinh xinh, chiếc mũ ca-lô vẫn nghịch ngợm lệch đi trên cái đầu nghênh qua nghênh lại, đôi chân nhảy nhót, tiếng huýt sáo trong trẻo trên con đường quê giữa ngày mùa vàng rực nắng và rơm mới.

    Lượm cười với tôi, vẫn nụ cười hồn nhiên như ngày nào. Rồi cháu lại đi. Hình ảnh chú bé ấy cứ xa dần, xa dần, rồi hoà vào cánh đồng quê lúa thơm mùi sữa…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Soạn Bài Thêm Trạng Ngữ Cho Câu Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Bài Câu Đặc Biệt Sbt Văn 7 Tập 2 Trang 22: Câu Nào Là Câu Đặc Biệt, Sử Dụng Nhằm Mục Đích Gì ?
  • Luyện Nói: Bài Văn Giải Thích Một Vấn Đề Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2 Trang 78…
  • Giải Soạn Bài Câu Đặc Biệt Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2
  • Soạn Bài Thêm Trạng Ngữ Cho Câu (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Câu Ghép Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 76 Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1.

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Khi Con Tu Hú Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Khi Con Tu Hú (Tố Hữu)
  • Giải Soạn Bài Khi Con Tu Hú Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Khi Con Tu Hú
  • Soạn Bài Khi Con Tu Hú Sbt Văn Lớp 8 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4 Trang 14
  • Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 trang 76 SBT Ngữ Văn 8 tập 1. Trong các câu cho sau đây, câu nào là câu ghép có quan hệ từ nối các về trong câu, câu nào là câu ghép không có quan hệ từ nối các vế trong câu ?. Soạn bài Câu ghép SBT Ngữ Văn 8 tập 1 – Soạn bài Câu ghép

    1. Bài tập 1, trang 113, SGK.

    a) Dần buông chị ra, đi con ! Dần ngoan lắm nhỉ ! U van Dần, u lạy Dần ! Dần hãy để chị đi với u, đừng giữ chị nữa. Chị con có đi, u mới có tiền nộp sưu, thầy Dần mới được về với Dần chứ ! Sáng ngày người ta đánh trói thầy Dần như thế, Dần có thương không. Nếu Dần không buông chị ra, chốc nữa ông lí vào đây, ông ấy trói nốt cả u, trói nốt cà Dần nữa đấy.

    (Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

    b) Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.

    (Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)

    c) Rồi hai con mắt long lanh của cô tôi chằm chặp đưa nhìn tôi. Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất : lòng tôi càng thắt lại, khoé mắt tôi đã cay cay.

    (Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)

    d) Một hôm, tôi phàn nàn việc ấy với Binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bĩu môi và bảo :

    – Lão làm bộ đấy!

    (Nam Cao, Lão Hạc)

    Giải:

    Bài tập này nhằm mục đích nhận biết câu ghép và hai cách nối các vế câu : có dùng và không dùng từ nối.

    a) Đoạn trích này có 4 câu ghép, trong đó có 1 câu nối các vế câu bằng quan hệ từ và 1 câu nối các vế câu bằng cặp từ hồ ứng.

    b) Đoạn trích có 2 câu ghép, các vế câu đều được nối với nhau bằng những từ có tác dụng nối.

    c) Đoạn trích có 1 câu ghép.

    d) Đoạn trích có 1 câu ghép.

    2. Bài tập 2, trang 113, SGK.

    a) vì… nên… (hoặc hởi vì… cho nên…; sở dĩ… là vì…)

    b) nếu… thì … (hoặc hễ… thì …;giá… thì …)

    c) tuy… nhưng… (hoặc mặc dù… nhưng…)

    d) không những… mà… (hoặc không chỉ… mà…; chẳng những… mà…)

    3. Bài tập 3, trang 113, SGK.

    Chuyển những câu ghép em vừa đặt được thành những câu ghép mới bằng một trong hai cách sau :

    a) Bỏ bớt một quan hệ từ.

    b) Đảo lại trật tự các vế câu.

    Giải:

    Lưu ý : Đối với những câu ghép sử dụng cặp quan hệ từ không những… mà … (hoặc không chỉ… mà … , chẳng những … mà …) không áp dụng các biện pháp bỏ bớt quan hệ từ hoặc đảo trật tự các vế câu được ; đối với những câu ghép sử dụng cặp quan hệ từ sở dĩ… là vì ta chỉ bỏ bớt được sở dĩ và khi đảo trật tự các vế câu thì cần bỏ các quan hệ từ sở dĩ, là.

    4. Bài tập 4, trang 114, SGK.

    Giải:

    Cần chú ý là các từ hô ứng đứng ngay trước hoặc sau từ mà nó phụ thuộc. Ví dụ : Người nào làm, người nấy chịu.

    5. Bài tập 5, trang 114, SGK.

    Viết một đoạn văn ngắn về một trong các đề tài sau (trong đoạn văn có sử dụng ít nhất là một câu ghép) :

    a) Thay đổi thói quen sử dụng bao bì ni lông.

    b) Tác dụng của việc lập dàn ý trước khi làm bài tập làm văn.

    6. Trong các câu cho sau đây, câu nào là câu ghép có quan hệ từ nối các về trong câu, câu nào là câu ghép không có quan hệ từ nối các vế trong câu ?

    a) Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại nghĩa là rất đẹp.

    (Phạm Văn Đồng)

    b) Gươm và rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh.

    (Sự tích Hồ Gươm)

    c) Những nhịp cầu tả tơi như ứa máu, nhưng cả cây cầu vẫn sừng sừng giữa mênh mông trời nước.

    (Thuý Lan)

    Giải:

    Trong số 3 câu của bài tập này, có 2 câu ghép chứa quan hệ từ nôi các vế trong câu, có 1 câu ghép không chứa chứa quan hệ từ nối các vế trong câu.

    7. Trong bài tập 6, có những quan hệ từ nào được dùng để nối các vế trong câu ghép ? (Chỉ ra từng từ cụ thể, kể cả các từ được dùng hai lần.)

    Giải:

    Trong các câu ở bài tập 6, có tất cả 3 lần sử dụng quan hệ từ nối các vế trong câu, trong đó có 1 từ được dùng hai lần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Soạn Bài Lập Dàn Ý Cho Bài Văn Tự Sự Kết Hợp Với Miêu Tả Và Biểu Cảm Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Câu Ghép (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Câu Ghép (Tiếp Theo) Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 84 Sbt Ngữ Văn
  • Soạn Bài Câu Ghép Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Giải Soạn Bài Câu Ghép (Tiếp Theo) Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100