Giải Tích Hàm Là Gì ?

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Tích Hàm Là Gì (Tiếng Pháp) ?
  • Phép Tính Vi Tích Phân Hàm Một Biến
  • Tuyển Sinh, Du Học: Xuất Bản Bản Tiếng Việt Sách “giải Tích” Của James Stewart
  • Toán Cao Cấp Cho Các Nhà Kinh Tế
  • Hội Thảo: “ứng Dụng Phương Trình Sai Phân Trong Giảng Dạy Môn Giải Tích Khối Nghành Kinh Tế Theo Chương Trình Cdio”
  • (Trích từ trang http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A3i_t%C3%ADch_h%C3%A0m)

    Giải tích hàm là một ngành của giải tích toán học nghiên cứu các không gian vector được trang bị thêm một cấu trúc tôpô phù hợp và các toán tử tuyến tính liên tục giữa chúng.

    Chính việc nghiên cứu phổ của các toán tử đã dẫn đến việc nghiên cứu các đại số topo, một đối tượng khác của giải tích hàm. Các kết quả và phương pháp của nó thâm nhập vào nhiều ngành khác nhau như lý thuyết phương trình vi phân thường, phương trình đạo hàm riêng, lý thuyết các bài toán cực trị và biến phân, phương pháp tính, lý thuyết biểu diễn, …

    Ra đời vào những năm đầu của thế kỷ 20, bắt nguồn từ các công trình về phương trình tích phân của Hilbert, Fredholm, …, đến nay giải tích hàm tích lũy được những thành tựu quan trọng và nó đã trở thành chuẩn mực trong việc nghiên cứu và trình bày các kiến thức toán học.

    Các khái niệm cơ bản

      Các toán tử tuyến tính liên tục giữa các không gian (còn gọi là đồng cấu). 2 trường hợp đặc biệt quan trọng là các phiếm hàm tuyến tính liên tục (dạng tuyến tính liên tục) và các tự đồng cấu.
      Giống như với các không gian, ta có các đại số tương ứng. Các đại số này dựa trên mô hình của đại số các tự đồng cấu, vì thế nên lý thuyết tổng quát về các đại số còn được gọi là lý thuyết đại số toán tử. Chú ý là khác với các không gian, các đại số thường chỉ xét trên trường số phức. Điều này là tự nhiên vì các tự đồng cấu chỉ có thể nghiên cứu “tốt” khi trường cơ sở là đóng đại số. Ngoài ra, dựa trên các tự đồng cấu tự liên hợp, người ta định nghĩa một lớp đại số định chuẩn rất quan trọng là các C*-đại số, không có sự tương ứng với các không gian!

    Vào năm 1932, Banach xuất bản cuốn sách “Lý thuyết toán tử”, nội dung bao gồm những kết quả được biết vào thời đó về lý thuyết các không gian định chuẩn, đặc biệt là các định lý của Banach đã công bố trong các bài báo từ năm 1922-1929… Cuốn sách này làm cho Giải tích hàm có một tác động như cuốn sách của Van der Waerden về đại số, được xuất bản hai năm trước đó. Các nhà giải tích trên thế giới bắt đầu nhận thức được sức mạnh của phương pháp mới và áp dụng chúng vào các lĩnh vực khác nhau; các ký hiệu và thuật ngữ của Banach được chấp nhận rộng rãi, không gian định chuẩn đầy đủ được gọi là không gian Banach rồi chẳng bao lâu, lý thuyết này trở thành một phần bắt buộc trong chương trình đại học… (Theo J. Dieudonné (1981))

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Chuỗi Fourier Đến Tích Phân Fourier
  • Bài 1 Sgk Giải Tích 12 Trang 43
  • Chuyên Đề 2: Diện Tích Đa Giác
  • Giải Sách Bài Tập Toán 8 Bài 6: Diện Tích Đa Giác
  • Giải Bài 1,2,3 Trang 100 Sgk Toán 5: Diện Tích Hình Tròn
  • ” Giải Tích Tiếng Anh Là Gì ? Giải Tích Toán Học Tiếng Anh Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Một Số Kiến Thức Về Giải Tích Vector (P1)
  • Tóm Tắt Một Số Kiến Thức Về Giải Tích Vector (P3)
  • Giáo Án Môn Giải Tích 12 Tiết 1, 2, 3: Tính Đơn Điệu Của Hàm Số
  • Giải Cứu Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Đề Kiểm Tra 1 Tiết Môn: Giáo Dục Công Dân 9
  • Môn giải tích là môn phân tích các nhánh cơ bản nhất, lâu đời nhất. Nói chung là một môn học toán học tương đối hoàn chỉnh với nội dung chính là giải tích và lý thuyết tổng quát về dãy vô hạn và bao gồm cả cơ sở lý thuyết của chúng ( lý thuyết cơ bản về số thực , hàm số và giới hạn ).

    Nó cũng là một khóa học cơ bản cho các chuyên ngành toán học đại học. Ngành toán học giải tích là ngành toán học chuyên nghiên cứu các số thực và số phức và các hàm của chúng. Sự phát triển của nó bắt đầu từ giải tích và mở rộng ra các đặc điểm khác nhau như tính liên tục , tính phân biệt và tính tích hợp của hàm . Những đặc điểm này giúp chúng ta ứng dụng vào việc nghiên cứu thế giới vật chất, nghiên cứu và khám phá các quy luật của tự nhiên.

    Môn giải tích tiếng anh là gì?

    Môn giải tích tiếng anh là: mathematical analysis

    Đang xem: Giải tích tiếng anh là gì

    Có thể bạn biết:

    Astronomy: thiên văn họcBiology: sinh họcChemistry: hóa họcInformation technology = Computer science: tin họcMaths: toán họcAlgebra: Đại sốGeometry: Hình họcMedicine: y họcPhysics: vật lýScience: khoa họcVeterinary medicine: thú y họcDentistry: nha khoa họcEngineering: kỹ thuậtGeology: địa chất họcAnthropology: nhân chủng họcArchaeology: khảo cổ họcCultural studies: nghiên cứu văn hóaEconomics: kinh tế họcLiterature: ngữ vănMedia studies: nghiên cứu truyền thôngPolitics: chính trị họcPsychology: tâm lý họcSocial studies: nghiên cứu xã hộiGeography: địa lýHistory: lịch sửCivic Education: Giáo dục công dânEthics: môn Đạo đức

    Mục đích của việc học môn giải tích 

    Mọi người đều biết rằng toán học có thể được chia thành ba phần: giải tích, hình học và đại số.

    Việc nghiên cứu giải tích toán học trước hết là tạo nền tảng tốt cho tất cả các khóa học giải tích và các khóa học vật lý tiếp theo, đồng thời chuẩn bị cho kiến ​​thức. Điều cần nhấn mạnh là chúng ta nên chú ý rằng toán học là một tổng thể hữu cơ, và bất kỳ phép toán tách rời nhân tạo nào là không nên. 

    Một vai trò quan trọng khác của việc học giải tích toán học là rèn luyện phương pháp tư duy toán học hiện đại. Toán học chú ý đến suy luận logic và tính chặt chẽ. Trong thực tế, một phần mạnh mẽ trong sự phát triển của giải tích là sự phân loại của giải tích. Công việc sẽ tiêu tốn hàng trăm năm của các thế hệ toán học thời đó, và cuối cùng là giới hạn – việc thiết lập và định nghĩa lý thuyết số thực như một biểu tượng sẽ được hoàn thành.

     lý thuyết về giải tích toán học rất rộng và sâu sắc, nó có những ứng dụng trực tiếp trong nhiều vấn đề thực tế. Ví dụ, một số bài toán tối ưu hóa có thể được rút gọn thành bài toán giá trị lớn nhất, và sau đó được giải bằng phương pháp tính vi phân. 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trang Về Sự Kiện, Sân Khẩu Và Phim Ảnh Hàng Đầu Việt Nam
  • Review Và Giải Thích Phim Relic – Tàn Tích Quỷ Ám – Liệu Có Đáng Xem?
  • Tổng Hợp Lý Thuyết Toán 12 Chương Số Phức Chọn Lọc
  • A7 – Olympic Giải Tích Sinh Viên
  • Chinh Phục Hình Học Giải Tích Oxy
  • Gt Trong Toán Học Là Gì? Giải Tích Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tích Phân Suy Rộng (Improper Integrals)
  • Giáo Trình Giải Tích 2 Bùi Xuân Diệu
  • Lý Thuyết & Giải Bài 3: Ứng Dụng Của Tích Phân Trong Hình Học
  • Giải Bài Tập 1 Trang 43 Sgk Giải Tích 12
  • Ra Mắt Sách ‘giải Tích Cho Kinh Doanh, Kinh Tế Học, Khoa Học Sự Sống Và Xã Hội’
  • VD: A = b. gt: do a=c mà b=c

    Hoặc bạn cũng có thể hiểu là gt.: giải tích, giáo trình cũng được.

    Giải tích toán học (tiếng Anh: mathematical analysis), còn gọi đơn giản là giải tích, là ngành toán học nghiên cứu về các khái niệm giới hạn, đạo hàm, tích phân… Nó có vai trò chủ đạo trong giáo dục đại học hiện nay. Phép toán cơ bản của giải tích là “phép lấy giới hạn”. Để nghiên cứu giới hạn của một dãy số, hàm số,… ta phải “đo” được “độ xa gần” giữa các đối tượng cần xét giới hạn đó. Do vậy, những khái niệm như là Ma trận (toán học), tôpô được tạo ra để mô tả một cách chính xác, đầy đủ việc đo độ xa, gần ấy.

    Ví dụ:

      Đạo hàm là gì? Đạo hàm chẳng qua là tốc độ thay đổi. Từ “tốc độ” là từ quá quen thuộc đối với mọi người, nên bản thân khái niệm đạo hàm cũng chẳng có gì khó hiểu: tốc độ xe ô tô là đạo hàm theo thời gian của quãng đường đi được, tốc độ tăng trưởng dân số hay tăng trưởng kinh tế là đạo hàm của dân số hay sản lượng kinh tế theo thời gian, v.v. (nói chính xác hơn, thì là cần lấy logarithm nếu đo tăng trưởng theo tỷ lệ % chứ không theo giá trị tuyệt đối). Chỉ có công thức tính toán nó có thể hơi lằng nhằng trong một số trường hợp. Thế nhưng không nên lao vào các công thức phức tạp quá ở phổ thông, mà nên chú trọng việc hiểu ý nghĩa hơn. Từ hôi học cấp 2, tôi và một số bạn bè đã biết dùng đạo hàm để tìm cực trị của hàm số. Đó cũng là một công dụng (gọi là phương pháp biến phân của Fermat) khiến đạo hàm trở nên có ích. Tại sao hình vuông lại là hình có diện tích lớn nhất trong các hình chữ nhật có cùng chu vi chẳng hạn, điều này có thể giải thích qua đạo hàm.

      Thế tích phân là gì? Chẳng qua là phép tính ngược của đạo hàm, cho phép tính các giá trị nào đó (ví dụ như quĩ đạo của vệ tinh, thể tích của một hình khối, v.v.) qua việc xác định tốc độ thay đổi của nó theo biến nào đó. Nếu như bắt học sinh phải học thuộc đến cả trăm công thức tính tích phân khác nhau, thì hẳn là tích phân trở thành thứ rắm rối và vô bổ. Nhưng nếu chỉ cần học ít công thức thôi, và có nhiều ví dụ cụ thể cho thấy ý nghĩa của việc tính tích phân, thì nó sẽ trở nên không quá khó, và cũng không vô bổ tẹo nào. Các ví dụ có ý nghĩa thực tế mà đòi hỏi tích phân thì có đầy, chỉ cần các nhà giáo dục chịu khó ngồi tổng hợp lại một số ví dụ hay, thay vì ngồi bịa các hàm rắm rối bắt học sinh tính tích phân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Tích Toán Học Ở Bậc Phổ Thông?
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 8224:2009 Công Trình Thủy Lợi
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 8478: 2010
  • Giáo Trình Giải Tích 3
  • Tài Liệu Giải Tích 3
  • Giải Vở Bài Tập Khoa Học 4 Bài 32: Không Khí Gồm Những Thành Phần Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Trả Lời Câu Hỏi Sgk Vật Lý 11 Bài 4
  • Ôn Tập Vật Lý 11 Chương 3 Dòng Điện Trong Các Môi Trường
  • 5 Bài Tập Vật Lý 11 Chương 1 Có Lời Giải
  • Ôn Tập Vật Lý 11 Chương 2 Dòng Điện Không Đổi
  • Ôn Tập Vật Lý 11 Chương 1 Điện Tích & Điện Trường
  • Giải sách bài tập Khoa học lớp 4 tập 1

    Giải Vở bài tập Khoa học 4 bài 32: Không khí gồm những thành phần nào? có đáp án chi tiết cho từng bài tập trang 47 VBT Khoa học 4 tập 1 giúp các em học sinh nắm được các kiến thức khoa học lớp 4. Mời các em học sinh cùng tham khảo chi tiết.

    Giải Vở bài tập Khoa học 4 bài 32

    Thực hiện như yêu cầu thí nghiệm trang 66 SGK và hoàn thành bảng sau:

    Lời giải: Giải bài tập Câu 1 trang 47 Vở bài tập Khoa học 4

    Đốt cháy một cây nến, gắn vào một đĩa thủy tinh rồi rót nước vào đĩa. Lấy lọ thủy tinh úp lên cây nến đang cháy như hình 1

    – Khi mới úp lọ, nến vẫn cháy vì trong lọ có không khí, một lúc sau nến tắt vì đã cháy hết phần không khí duy trì sự cháy bên trong lọ.

    – Khi nến tắt nước trong đĩa dâng vào lọ. Điều đó chứng tỏ sự cháy đã làm mất đi một phần không khí ở trong lọ và nước tràn vào lọ chiếm chỗ phần không khí bị mất đi.

    – Qua thí nghiệm trên, cho thấy : không khí có hai thành phần chính là thành phần duy trì sự cháy (khí ô-xi) và thành phần không duy trì sự cháy (khí ni-tơ).

    Giải Bài 2 trang 47 VBT Khoa Học 4

    Quan sát hình 2, 4, 5 trang 66, 67 SGK. Hãy điền vào chỗ … trong các câu sau cho phù hợp.

    a) Không khí gồm hai thành phần chính là: khí …….. duy trì sự cháy và khí …….. không duy trì sự cháy.

    Lời giải:

    b) Ngoài hai thành phần chủ yếu trên, không khí còn chứa những thành phần khác như:…………

    a) Không khí gồm hai thành phần chính là: khí ô-xi duy trì sự cháy và khí ni-tơ không duy trì sự cháy.

    b) Ngoài hai thành phần chủ yếu trên, không khí còn chứa các thành phần khác như các-bô-níc, hơi nước, bụi, vi khuẩn……

    Khoanh vào chữ cái trước câu trả lời đúng nhất.

    Giải Bài 3 trang 47 VBT Khoa Học 4

    Không khí bao gồm những thành phần nào?

    Lời giải:

    a) Khí ni-tơ

    b) Hơi nước

    c) Khí khác như các-bô-níc

    d) Khí ô-xi

    e) Bụi, nhiều loại vi khuẩn

    g) Tất cả những thành phần trên

    Lời giải: Chọn g

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Lịch Sử 8: Bài 8. Sự Phát Triển Của Kĩ Thuật, Khoa Học, Văn Học Và Nghệ Thuật Thế Kỉ Xviii
  • Giải Vbt Khoa Học 4 Bài 52: Vật Dẫn Nhiệt Và Vật Cách Nhiệt
  • Giải Vở Bài Tập Khoa Học 4 Bài 13: Phòng Bệnh Béo Phì
  • Giải Vở Bài Tập Khoa Học 5 Bài 6: Từ Lúc Mới Sinh Đến Tuổi Dậy Thì
  • Giải Vở Bài Tập Khoa Học 5 Bài 7: Từ Tuổi Vị Thành Niên Đến Tuổi Già
  • Giải Tích Hàm Là Gì (Tiếng Pháp) ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phép Tính Vi Tích Phân Hàm Một Biến
  • Tuyển Sinh, Du Học: Xuất Bản Bản Tiếng Việt Sách “giải Tích” Của James Stewart
  • Toán Cao Cấp Cho Các Nhà Kinh Tế
  • Hội Thảo: “ứng Dụng Phương Trình Sai Phân Trong Giảng Dạy Môn Giải Tích Khối Nghành Kinh Tế Theo Chương Trình Cdio”
  • Một Số Khái Niệm Về Giải Tích Không Trơn
  • Analyse fonctionnelle (mathématiques)

    Giải tích hàm

    L’analyse (Giải tích) fonctionnelle (hàm) est (là) la (các, sự, những, của, việc) branche (là một nhánh) des (của) mathématiques (của toán học) et (và) plus (hơn, thêm, nhiều) particulièrement (đặc biệt là) de (của, các, trong, về) l’analyse (Giải tích) qui (mà, trong đó) étudie (nghiên cứu) les (các, những) espaces (không gian) de (của) fonctions (các hàm) .

    Giải tích hàm là một nhánh của Toán học, đặc biệt trong Giải tích nghiên cứu những không gian của các hàm

    Elle (Nó) pnd (có) ses (của mình) racines (nguồn gốc) historiques (lịch sử) dans (trong, ở, tại, vào, năm) l’étude (nghiên cứu) des (của, các, trong, về) transformations (những biến đổi) telles (như, chẳng hạn, ví dụ, như vậy) que (mà, đó, rằng, là, có) la (các, sự, những, của, việc) transformation de (của, các, trong, về) Fourier et (và, và các) dans (trong, ở, tại, vào, năm) l’étude des équations différentielles ou (hoặc) intégro-différentielles.

    Nó có nguồn gốc lịch sử của mình trong việc nghiên cứu biến đổi như biến đổi Fourier và các nghiên cứu về phương trình vi phân hoặc vi – tích phân

    Le terme fonctionnelle trouve son (của nó) origine dans le cadre du calcul des variations, pour désigner des fonctions dont les arguments sont (là những) des (các) fonctions.

    Thuật ngữ hàm có nguồn gốc trong các tính toán của các biến, để biểu thị các hàm mà đối số là những hàm.

    Son emploi (Dùng, sử dụng) a (có, đã có) été généralisé (khái quát, tổng quát) à (với, các, bằng) de (của, các, trong, về) nouveaux (mới) domaines (những miền) par (qua, bởi, bằng, của) le (các, sự, những, của, việc) mathématicien et (và) physicien italien Vito Volterra. Le (Các, sự, những, của, việc) mathématicien (nhà toán học) polonais (Ba Lan) Stefan Banach est (là, đang có, được) souvent (thường được, thường là, thường được) considéré (xem xét, coi, được coi là) comme (như, chẳng hạn như, như là) le (các, sự, những, của, việc) fondateur (người sáng lập, nhà sáng lập) de (của, các, trong, về) l’analyse fonctionnelle moderne.

    Việc sử dụng thuật ngữ đã được tổng quát đến các miền mới bởi các nhà toán học và nhà vật lý người Ý Vito Volterra. Nhà toán học Ba Lan Stefan Banach thường được coi là người sáng lập của giải tích hàm hiện đại.

    Les (Các) espaces (lĩnh vực) de (của) l’analyse fonctionnelle (giải tích hàm)

    Các lĩnh vực của Giải tích hàm

    Les (Các, sự, những, của, việc) espaces de (của, các, trong, về) base (cơ sở, căn cứ) de l’analyse fonctionnelle sont (đầy đủ, là, được, đang những, là những) les (các, sự, những, của, việc) espaces vectoriels normés complets (đầy đủ) sur (về, khoảng, về việc, về các) le (các, sự, những, của, việc) corps des (của, các, trong, về) nombres (số, con số, số lượng, số điện thoại) réels (số thực) ou (hoặc) des nombres complexes (số phức). De (Của, các, trong về) tels (như vậy, chẳng hạn, ví dụ) espaces sont (là, được, đang những, là những) appelés (được gọi là) les (các, sự, những, của, việc) espaces de (của, các, trong, về) Banach.

    Các không gian dựa trên giải tích hàm đầy đủ không gian vectơ định chuẩn trong miền số thực hoặc số phức. Không gian như vậy được gọi là không gian Banach.

    Les (Các, sự, những, của, việc) espaces de (của, các, trong, về) Hilbert, constituent (là, được) un (một) cas (trường hợp) particulier important, où (đâu, nơi, mà) la (các, sự, những, của, việc) norme est (là) issue (sau) d’un produit scalaire. Ces (Những, các, đây là) derniers (cuối cùng) jouent (đóng vai trò) par (qua, bởi, bằng của) exemple (ví dụ, như) un (một) rôle (vai trò) important dans la formulation mathématique de la mécanique quantique. L’analyse fonctionnelle peut aussi être effectuée dans un cadre plus général, celui des espaces vectoriels topologiques, tels que les espaces de Fréchet.

    Không gian Hilbert là một trường hợp đặc biệt quan trọng, trong đó tiêu chuẩn là kết quả của một sản phẩm vô hướng. Họ chơi như một vai trò quan trọng trong việc xây dựng toán học của cơ học lượng tử. Giải tích hàm cũng có thể được thực hiện trong một bối cảnh tổng quát hơn, đó là không gian vectơ tôpô, chẳng hạn như không gian Fréchet.

    Des objets d’étude importants en analyse fonctionnelle sont les opérateurs linéaires continus définis sur les espaces de Banach et de Hilbert. Ceux-ci mènent naturellement à la définition des C*-algèbres.

    Đối tượng nghiên cứu quan trọng trong giải tích hàm là các toán tử tuyến tính liên tục được xác định trên không gian Banach và Hilbert. Những cách tự nhiên dẫn đến định nghĩa của C *-đại số.

    Les espaces de Hilbert peuvent être complètement classifiés : il existe un espace de Hilbert unique à un isomorphisme près pour chaque cardinal de la base hilbertienne. Les espaces de Hilbert de dimension finie sont entièrement connus en algèbre linéaire, et les espaces de Hilbert séparables sont isomorphes à l’espace de suites ℓ2.

    Không gian Hilbert có thể hoàn toàn phân loại: có một không gian đẳng cấu Hilbert duy nhất cho mỗi hồng y của cơ sở Hilbert. Không gian Hilbert của kích thước hữu hạn được biết đầy đủ trong đại số tuyến tính, và không gian Hilbert tách là đẳng cấu với không gian ℓ 2 dãy phòng.

    La séparabilité étant importante pour les applications, l’analyse fonctionnelle des espaces de Hilbert traite surtout de cet espace et de ses morphismes. Un des problèmes ouverts en analyse fonctionnelle est de prouver que tout opérateur borné sur un espace de Hilbert séparable possède un sous-espace stable fermé non trivial. Ce problème du sous-espace invariant (en) a déjà été résolu dans beaucoup de cas particuliers.

    Sự phân chia là quan trọng cho các ứng dụng, giải tích hàm của không gian Hilbert chủ yếu giao dịch với khu vực này và morphisms của mình. Một trong những vấn đề mở giải tích hàm là để chứng minh rằng bất kỳ toán tử giới hạn trên một không gian Hilbert tách có một không gian con đóng ổn định không tầm thường. Vấn đề này của không gian con bất biến (trong) đã được giải quyết trong nhiều trường hợp đặc biệt.

    Les espaces de Banach sont beaucoup plus compliqués à étudier que les espaces de Hilbert. Il n’y a pas de définition unique de ce qui pourrait constituer une base, par exemple.

    Không gian Banach là phức tạp hơn nhiều nghiên cứu hơn không gian Hilbert. Không có định nghĩa duy nhất của những gì có thể tạo thành một cơ sở, ví dụ.

    Pour tout nombre réel p ≥ 1, un exemple d’espace de Banach est donné par l’ensemble de toutes les fonctions mesurables au sens de Lebesgue dont la puissance p-ième de la valeur absolue a une intégrale finie (voir les espaces Lp).

    Đối với bất kỳ số thực p ≥ 1, một ví dụ về không gian Banach được đưa ra bởi các thiết lập của tất cả các hàm đo Lebesgue có sức mạnh của các giá trị tuyệt đối p-thứ có thể tách rời hữu hạn (xem không gian Lp) .

    Dans les espaces de Banach, une grande partie de l’étude implique le dual topologique : l’espace de toutes les formes linéaires continues. Comme en algèbre linéaire, le bidual (le dual du dual) n’est pas toujours isomorphe à l’espace original, mais il y a toujours un morphisme injectif naturel d’un espace dans son bidual.

    La notion de dérivée est étendue aux fonctions arbitraires entre espaces de Banach via le concept de différentielle ; la différentielle de Fréchet d’une fonction en un certain point est, lorsqu’elle existe, une certaine application linéaire continue.

    Khái niệm phái sinh được mở rộng để không gian Banach tùy ý giữa việc sử dụng các khái niệm về hàm khác biệt, sự khác biệt Fréchet của một hàm tại một điểm nhất định là, khi có một số liên tục tuyến tính.

    Ici nous énumérons quelques résultats importants d’analyse fonctionnelle :

    Ở đây chúng tôi liệt kê một số kết quả quan trọng của phân tích chức năng:

    Le principe de la borne uniforme est un résultat sur des ensembles d’opérateurs bornés.

    Nguyên tắc thống nhất ràng buộc là một kết quả trên bộ của các toán tử bị chặn.

    Le théorème spectral donne une formule intégrale pour les opérateurs normaux sur un espace de Hilbert. Il est d’une importance centrale dans la formulation mathématique de la mécanique quantique.

    Định lý phổ cho một công thức tích hợp cho toán tử bình thường trên một không gian Hilbert. Nó có tầm quan trọng trong việc xây dựng toán học của cơ học lượng tử.

    Le théorème de Hahn-Banach permet de prolonger des formes linéaires définies sur un sous-espace à l’espace tout entier, tout en conservant la norme.

    Định lý Hahn-Banach cho phép mở rộng các hình thức tuyến tính được định nghĩa trên một không gian con cho toàn bộ không gian, trong khi duy trì các tiêu chuẩn.

    L’un des triomphes de l’analyse fonctionnelle fut de montrer que l’atome d’hydrogène était stable.

    Một trong những thành tựu của giải tích hàm là để cho thấy rằng các nguyên tử hydro đã được ổn định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Tích Hàm Là Gì ?
  • Từ Chuỗi Fourier Đến Tích Phân Fourier
  • Bài 1 Sgk Giải Tích 12 Trang 43
  • Chuyên Đề 2: Diện Tích Đa Giác
  • Giải Sách Bài Tập Toán 8 Bài 6: Diện Tích Đa Giác
  • Bác, Đảng Đã Bán Những Gì Và Để Làm Gì? Đặng Chí Hùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Thật Về Cuộc Di Tản Trước Giải Phóng Miền Nam Năm 1975 – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Phương Đông
  • Cuộc Chiến Chấm Dứt 45 Năm Trước Qua Cái Nhìn Của Du Học Sinh!
  • Chiến Thắng 30/4 Mở Trang Mới Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
  • Tuyển Chọn Bài Tập Lượng Giác Lớp 10 Cơ Bản
  • Tổng Hợp Đề Kiểm Tra 1 Tiết Toán 11 Chương 1 Đại Số (Có Đáp Án)
  • Đặng Chí Hùng

     

    Tôi xin tiếp tục phần ba này với việc đề cập đến lý do có công hàm bán

    nước 1958 và những hệ lụy của nó đến bây giờ. Rất mong đây là tiếng nói

    góp sức cho sự hồi sinh của dân tộc. Qua đây tôi mong sau khi các bài viết

    được Danlambao đăng, bạn đọc nên tìm hiểu rồi dùng chính mình làm chiến sĩ

    thông tin như slogan của Danlambao đã gửi đến cho người thân quen của

    mình.

    Về nội dung bài viết, tôi xin phép bạn đọc hết sức thông cảm vì phải lấy

    dẫn chứng cả hai phía: Dân và Đảng để minh chứng nên bài có thể viết dài,

    không súc tích. Tôi xin phép dùng một quy tắc đại loại gần giống với phép

    quy nạp và phản chứng trong toán học để chứng minh nên bài viết sẽ dài,

    chia làm từng phần nhỏ để kết luận.

    Trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin trình bày về việc ông Hồ Chí

    Minh bán nước với lý do muốn gây chiến với VNCH gây nên cuộc chiến sinh

    linh đồ thán. Có những ý kiến cho rằng ông Hồ là gián điệp Trung cộng,

    người Tàu. Trong khuôn khổ bài này tôi xin không đi vào phân tích việc đó

    vì đó là nghi vấn cần thêm thời gian và tài liệu. Tôi tạm coi ông Hồ là

    người Việt Nam, đi sang Pháp định làm quan nhưng không được nhận và gặp

    quốc tế thứ 3 rồi về nước. Và bối cảnh trong bài này tôi cũng xin dừng lại

    sau, tránh ý kiến cho rằng lúc đó Trung cộng và Mỹ có can thiệp sâu vào

    Việt Nam.

    Tại sao phải bán nước?

    Như đã nói ở phần 2,

    công hàm 14/9/1958 là một công hàm bán nước của ông Hồ Chí Minh và đảng

    cộng sản mà người đứng ký tên là ông Phạm Văn Đồng (Thủ tướng VNDCCH). Vậy

    tại sao họ phải bán Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung cộng? Tôi xin đi vào

    phân tích ở đây.

    1. Bối cảnh lịch sử hai miền Nam – Bắc:

    a. Về đời sống và kinh tế:

    Miền Bắc trong giai đoạn này bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội

    theo như tuyên truyền của cộng sản. Trong thời gian từ 1953-1957

    xảy ra cuộc Cải cách ruộng đất man rợ, gây tang

    thương oan trái trong nhân dân (Tôi sẽ có bài khác về vấn đề này).

    Đây là cuộc đấu tố theo kiểu cách mạng văn hóa dập khuôn từ Trung

    cộng. Thực chất trong lúc này đảng cộng sản được các quốc gia

    để khôi phục sản xuất. Nhưng có một điều ở đây chúng ta cần chú ý

    lúc này chủ nghĩa cộng sản đang muốn nhuộm đỏ cả thế giới, trong

    đó miền bắc Việt Nam là bàn đạp.

    Tại Miền Nam dưới sự lãnh đạo của ông Ngô Đình Diệm, cùng sự hỗ trợ của

    Hoa Kỳ nhằm khôi phục kinh tế và nâng cao dân trí. Trong thời điểm miền

    bắc có cải cách ruộng đất gây tai họa thì miền nam cũng có cải cách điền

    địa và “Người cày có ruộng” mang lại niềm vui cho nhân dân.

    Chính vì có những chính sách hợp lý, chế độ dân chủ, nên nửa trong của

    Việt Nam đã phát triển nhanh chóng. Bằng chứng là Sài Gòn được coi là “

    Hòn Ngọc Viễn đồng”.

    Về mặt kinh tế và đời sống này tôi xin không cần quá dài dòng vì đó là sự

    thật với tất cả chúng ta. Sự thật ấy đã khiến cho bao người miền bắc ngỡ

    ngàng sau năm 1975 được vào Sài Gòn. Nói đến bối cảnh đó để nói lên một

    điều sự thực đó là nhân dân miền nam sống sung túc hơn miền bắc rất nhiều.

    Tôi xin nêu ra một ví dụ nhỏ để so sánh.

    Số liệu và nhận xét trên wiki:

    http://vi. wikipedia. org/wiki/Kinh_tế_Việt_Nam_Cộng_hòa:

    Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tích cực

    triển khai chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Các hàng rào

    thuế quan và phi thuế quan được dựng lên để bảo hộ một loạt ngành công

    nghiệp nhẹ. Kết quả phải kể đến nhà máy giấy đầu tiên ở Việt Nam: nhà

    máy giấy Cogido An Hảo (1961) ở Biên hòa, thỏa mãn 30-40% nhu cầu tiêu

    thụ giấy trong nước . Đồng thời, các loại máy móc, kim loại – những đầu vào cho các

    ngành được bảo hộ – được ưu tiên nhập khẩu. Trong khi hạn chế nhập khẩu,

    xuất khẩu được khuyến khích. Một số mặt hàng xuất khẩu còn được chính

    quyền trợ cấp. Ngay cả tỷ giá hối đoái cũng được điều chỉnh thuận lợi

    cho xuất khẩu (thông qua trừ đi một mức phụ đảm).

    Ở nông thôn thì Cải cách ruộng đất (lúc đó gọi là “Cải cách điền địa”)

    được triển khai từ năm 1955 và kéo dài tới cuối năm 1960. Những ruộng

    đất của địa chủ bỏ hoang sẽ bị thu hồi và cấp cho tá điền. Địa chủ không

    được phép sở hữu quá 100 hecta đất (riêng các đồn điền dù hơn 100 ha vẫn

    được phép). Số dư ngoài 100 ha sẽ bị buộc phải bán cho chính quyền để

    bán lại cho tá điền. Tá điền được yêu cầu lập hợp đồng khai thác ruộng

    đất với địa chủ, gọi là khế ước tá điền trong đó có ghi mức địa tô mà tá

    điền phải trả cho địa chủ. Thời hạn khế ước là 5 năm, có tái ký. Tá điền

    có quyền trả đất và phải báo trước chủ đất 6 tháng.

    Về thu nhập bình quân, theo “số liệu kinh tế – GDP” bình quân, ở miền Nam

    vào thời trước 1975 là 150USD. Thu nhập này tuy chưa cao mấy thời đó,

    nhưng cao hơn ở các nước Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, và Pakistan. Trong

    khi đó 36 năm sau, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là khoảng 1100

    USD, thua xa Thái Lan (khoảng 4000 USD).

    Về giáo dục đại chúng, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, năm 1973, tỉ lệ dân

    số biết đọc, biết viết là 70%, rất cao so với các nước Á châu láng giềng

    hồi đó. Hiện nay, tỉ lệ dân số biết đọc và viết là 90%. Ba mươi sáu năm,

    chỉ tăng 20%?

    Như vậy kinh tế của VNCH khiến cho nhân dân không có gì phải phàn nàn so

    với miền bắc.

    Ngoài ra việc tự do báo chí, lập đoàn lập hội, phản kháng chính phủ cũng

    tạo cho VNCH một đời sống chính trị thoải mái và tự do. Ở đó con người có

    quyền của con người đúng nghĩa. Tuy chưa hoàn thiện nhưng so với miền bắc

    là cả một sự đối lập tương phản.

    Có thể kết luận: Về mặt kinh tế và đời sông, miền Nam hơn hẳn miền Bắc.

    Như vậy không có lý do gì miền Bắc có đời sống thấp kém hơn, kinh tế thấp

    hơn phải đi “giải phóng” cho miền Nam trù phú, giàu sức sống hơn. Lý do

    “giải phóng” về mặt kinh tế và đời sống là hoàn toàn bị bác bỏ.

    b. Về mặt quân sự:

    Đặc biệt về quân sự, có nhiều ý kiến cho rằng lúc đó VNDCCH lo sợ VNCH

    bắc tiến. Nhưng trên thực tế cho đến 1956 thì quân đội VNCH chủ yếu lo bảo

    vệ đất nước là chính. Họ chưa đủ trang bị và con người để trở thành “Nguy

    cơ” với Bắc Việt. Ví dụ như sau 1968 thì QLVNCH mới được trang bị M-16,

    trong khi đó quân đội VNDCCH lại có Ak-47 từ trước đó. Xin cho một thống

    kê nguồn wiki:

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Lịch_sử_Quân_lực_Việt_Nam_Cộng_hòa

    Năm 1956: Bộ Tổng tham mưu dời vào trại Trần

    Hưng Đạo, gần cổng vào phi trường Tân Sơn Nhất, và bắt đầu cải tiến toàn

    bộ cơ cấu tổ chức. Các tiểu đoàn bộ binh được tổ chức lại thành 4 sư

    đoàn dã chiến (1, 2, 3, 4) và 6 sư đoàn khinh chiến (11, 12, 13, 14, 15,

    16). Mỗi sư đoàn khoảng hơn 5.000 người. Pháo binh có thêm tiểu đoàn 23,

    25, 34. Tiểu Đoàn 34 là đơn vị đầu tiên được trang bị đại bác 155 mm.

    Cùng năm 1956, mỗi sư đoàn bộ binh được trang bị thêm 2 tiểu đoàn pháo

    binh với 18 khẩu 105 mm. Không quân tiếp nhận thêm căn cứ Tân Sơn Nhất

    và căn cứ Biên Hòa. Cả hai đổi thành Căn cứ trợ lực không quân số 2 và

    số 3. Hải quân bắt đầu tiếp nhận tàu chiến từ Hải quân Hoa Kỳ gồm 31

    chiến hạm với 193 chiến đỉnh.

    Chú ý: với quân số 1 sư đoàn 5000 người thì thực tế so với lúc này

    QLVNCH chỉ có 5 sư đoàn đúng nghĩa (Quân số khoảng 10000 người).

    Trong cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua

    (NXb Sự thật – Cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) có viết:

    (links:

    http://www. vnmilitaryhistory. net/index.

    php?PHPSESSID=d5ae9dabfb9594328e836b81fb7a991a&topic=9915.0):

    Sự thật là sau cuộc chiến tranh Triều Tiên,

    Mỹ không có khả năng can thiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dương. Thái độ

    cứng rắn của Mỹ ở Hội nghị Giơnevơ chẳng qua là do Mỹ sợ Pháp vì bị thua

    ở chiến trường, có nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, tài chính, có

    thể chấp nhận một giải pháp không có lợi cho việc Mỹ nhảy vào Đông Dương

    sau này.

    Như vậy lý do có áp lực quân sự từ VNCH là không có. Người Mỹ đã không có

    khả năng can thiệp vào Việt Nam lúc đó như tài liệu phía cộng sản tôi vừa

    trích dẫn, Mỹ chỉ nhảy vào tham chiến sau này. Xét bối cảnh cho đến trước

    1958 (Có công hàm bán nước) thì về quân sự VNDCCH nắm thế chủ động và VNCH

    cùng Mỹ chưa đủ sức gây sức ép!

    Có thể kết luận: Về mặt quân sự, phía VNCH, Mỹ không có áp lực đáng kể

    nào có thể khiến cho VNDCCH phải “sợ” như các biện hộ cho việc dựa vào

    Trung cộng, Liên xô tiến đánh miền Nam.

    c. Kết luận:

    Về bối cảnh lịch sử cho thấy nhân dân miền Bắc có chất lượng sống

    không bằng miền Nam. Chúng ta phải hiểu rằng nhân dân miền Bắc có

    thể mù tịt thông tin trong Nam. Nhưng các vị lãnh đạo thì họ quá

    rõ nhờ hệ thống gián điệp chằng chịt, sách báo thông tin chỉ mình

    họ có. Lãnh đạo cộng sản cũng không phải là tay mơ. Vậy việc họ

    biết thừa rằng chẳng có lý do gì cần phải “Giải phóng” miền Nam.

    Nếu là một chính quyền hoạt động theo đúng tôn chỉ “Vì dân” thì họ

    sẽ không tiến hành chiến tranh để làm cho nhân dân 2 miền đều khổ

    cực trong bối cảnh nhân dân bên phía kia sống sung sướng. Nhân dân

    Nam Bắc đều là nhân dân Việt Nam cả. Hơn thế nữa trong bối cảnh

    không chịu áp lực quân sự thực sự thì lý do gây chiến là đâu?

    Vậy chỉ có một lý do đó là lãnh đạo cộng sản miền Bắc phải có sứ

    mệnh cao hơn cả cuộc sống bình yên của nhân dân mới khiến họ nướng

    dân trên ngọn lửa hung tàn chiến tranh. Đó chính là: Ý thức hệ và

    quyền lực.

    Cuộc chiến mà đảng cộng sản tuyên truyền thực ra không “giải phóng” cho

    ai mà đơn thuần là cuộc chiến cho Ý thức hệ cộng sản chỉ huy bởi Liên xô

    và Trung cộng. Lý giải cho kết luận này tôi xin nói về câu nói nổi tiếng

    của ông Hồ: “Ông Diệm cũng là người yêu nước nhưng theo cách của ông

    ấy”. Nếu nói như ông Hồ thì ông không thể coi ông Diệm là người phản

    bội dân tộc và như vậy cớ gì phải “giải phóng”? Cả về con người, lãnh tụ,

    kinh tế, quân sự thì có thể kết luận ngoài vấn đề chiến tranh cho ý thức

    hệ, cho quyền lực đỏ chẳng có lý do nào để giải thích cho cuộc chiến phi

    nghĩa ở Việt Nam.

    Thậm chí cái lý do “thống nhất đất nước” cũng không thể chấp nhận được.

    Nếu để thống nhất không thiếu gì con đường thông qua ngoại giao, hòa bình.

    Hơn thế, khi ký công hàm 1958, ông Hồ đã cho thấy lý do “thống nhất” là

    một trò hề. Thống nhất không thể đem một phần đất đai của tổ quốc dâng cho

    giặc được.

    Câu nói nổi tiếng của ông Lê Duẩn: “Ta Đánh Miền Nam là Đánh cho Liên

    Xô, cho Trung Quốc…” đã thay cho lời kết luận của tôi.

    2. Trung Quốc trả tiền mua Đảo bằng cái gì?

    Trung cộng đã giúp đỡ từ vật dụng nhỏ nhất cho đến tàu chiến, xe tăng để

    quân đội VNDCCH có thể tiến hành cuộc chiến tranh gây đau thương cho dân

    tộc. Chúng ta không lạ gì các khẩu 12,7, kim khâu, đá lửa, mũ cối, xe tăng

    Dy, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung cộng với tờ báo mới (Của đảng cộng sản):

    (Links:

    http://www.baomoi.com/Chuyen-it-biet-ve-quan-he-Viet–Trung-thoi-chong-My/122/3269339.

    epi)

    Những người ở lứa tuổi tôi (và trẻ hơn hai

    mươi, hai nhăm tuổi) hiện nay đều không quên những viện trợ to lớn của

    nhân dân Trung Quốc anh em cho chúng ta trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

    Từ vũ khí đạn dược đến gạo ăn vải mặc, từ ô tô, tầu thủy, máy bay đến

    chiếc xe đạp, máy khâu, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ…, không sao

    kể hết.

    Tôi còn nhớ, từ chiếc mũ cối và đôi dép cao su Việt Nam đưa mẫu sang,

    các kỹ sư và công nhân Trung Quốc đã chế tạo cho quân đội ta và nhân dân

    ta những chiếc mũ cối và đôi dép lốp nổi tiếng một thời.

    … Ít người Việt Nam được biết những con tầu Giải phóng tải trọng chỉ

    có 50 tấn nhưng dùng động cơ mạnh tới 800 mã lực (nghĩa là có tốc độ rất

    nhanh) để có thể từ một cảng miền Bắc chở vũ khí, lương thực… vào cập

    bến tại một nơi ở vùng giải phóng miền Nam rồi trở lại ngay miền Bắc

    trong đêm đã được các kỹ sư và công nhân một nhà máy đóng tầu Trung Quốc

    thiết kế và chế tạo xong trong một thời gian ngắn kỷ lục theo yêu cầu

    của chúng ta.

    Đây chỉ là một ví dụ trong rất nhiều ví dụ về sự “giúp đỡ” của Trung

    cộng. Trung cộng thực chất giúp đỡ ông Hồ và đảng cộng sản nhằm 2 mục

    tiêu: Lan truyền đế chế cộng sản đỏ, Đổi lấy 2 đảo chiến lược và khu vực

    nhiều dầu mỏ của Việt Nam. Dã tâm ấy được thể hiện qua công hàm 1958 của

    ông Phạm Văn Đồng dưới sự chỉ đạo của ông Hồ (Như đã chứng minh ở phần 2).

    Luận điểm này có thể hiểu rằng: Một kẻ tham lam, xấu bụng như Trung Cộng,

    việc giúp đỡ này không thể “vô tư”. Nó dứt khoát phải kèm theo điều kiện.

    Điều kiện đó là: Hoàng Sa- Trường Sa.

    3. Bác và đảng đã bán những gì?

    Trên thực tế, để chiến đấu cho quyền lực cộng sản “Đánh cho Liên xô,

    cho Trung Quốc” thì đảng cộng sản Việt Nam cần vũ khí, tiền. Liên xô

    giúp đỡ nhưng họ không giúp như Trung cộng. Trung cộng với tư tưởng đại

    hán và mộng đô hộ Việt Nam ta suốt 4000 năm đã không bỏ qua cơ may đó. Họ

    đã ngấm ngầm thỏa thuận để đổi vũ khí lấy đất đai. Trong công hàm 1958 tôi

    đã nêu trong bài trước (bài số 2), việc bán quần đảo HS-TS là có thật,

    không thể phủ nhận.

    Việc mua bán này đã được chính các quan chức cộng sản thừa nhận một cách

    lập lờ. Chúng ta không quên việc ông Đồng đã nói kiểu lập lờ: “Lúc đó

    thời chiến phải nói thế”. Thực ra ở đây câu nói đó ý muốn ám chỉ

    việc lúc đó cần tiền, cần vũ khí để bán đảo cho Trung cộng. Như vậy việc

    trao đổi là hoàn toàn hợp lý. Một bên cần vũ khí chiến tranh, một bên cần

    đảo và dầu mỏ.

    Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam qua cuốn

    “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”. Ở

    trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú

    nhận:

    “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát

    từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu

    chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt

    Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung

    Quốc… Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với

    Mỹ… Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác”.

    Điều này cho thấy người cộng sản chưa dám nói thẳng ra Trung cộng “lợi

    dụng” cái gì rõ rệt, họ sợ tội BÁN NƯỚC. Nhưng đây có thể coi như lời thừa

    nhận xương máu cho cuộc chiến tranh Nam Bắc là vô nghĩa, và cái thứ để

    “lợi dụng” kia chính là HS-TS.

    Trung cộng luôn lợi dụng việc “giúp đỡ” để giành đất của chúng ta. Thực

    ra ông Hồ và đảng cộng sản ban đầu có ý định bán cả đảo Bạch Long Vĩ. Tuy

    nhiên câu chuyện về hòn đảo Bạch Long Vĩ có hơi khác vì nó là khúc xương

    khó nhằn hơn HS-TS. Đó cũng là điều còn may mắn cho dân tộc.

    Hẳn nhiều người còn nhớ, năm 1955, khi quân đội Pháp thi hành Hiệp định

    Geneve, rút khỏi khu 300 ngày, tập kết vào dưới vĩ tuyến 17. Thời kỳ này

    quân đội Việt Minh từ các chiến khu trở về tiếp quản khu vực Quảng Ninh,

    Hải Phòng, Kiến An chưa có lực lượng hải quân. Biết được điều đó, Trung

    cộng đã tự ý đổ bộ vào tiếp quản đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam. Đảo Bạch

    Long Vĩ nằm trong vịnh Bắc Bộ, chỉ cách cảng Hải Phòng hơn 120 km. Trung

    cộng đã chuyên chở sắt thép, xi măng ra đảo, xây dựng công sự kiên cố, bộc

    lộ ý đồ chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ lâu dài. Sau đó Trung cộng đã trả lại

    cho Việt Nam năm 1956. Lý do Trung cộng trả lại cho Việt Nam không phải

    Trung cộng tốt đẹp gì. Chỉ bởi vì đó là khúc xương khó nuốt. Đảo Bạch Long

    Vĩ không thể là của Trung cộng dựa trên luật biển (quá gần cảng Hải

    Phòng), nếu chiếm sẽ thành quá lố và chịu áp lực quốc tế. Và so sánh vị

    trí chiến lược cũng như vàng đen thì HS-TS hơn hắn. Và đảng cộng sản Việt

    Nam đương nhiên không muốn việc mất Bạch Long Vĩ. Họ làm thế sẽ lộ rõ mưu

    mô bán nước cho nhân dân ta, họ không dại gì làm điều này nên đã yêu cầu

    Trung cộng rút, Trung cộng nhẹ nhàng rút bỏ.

    Đây là lời phát biểu của ông Thạc sỹ Hoàng Việt (của cộng sản) với VOA:

    (bài viết trên biendong. net )

    (Links:

    http://biendong.net/su-kien/375-tranh-chp-bin-ong-phng-vn-thc-s-hoang-vit-v-cong-ham-phm-vn-ng.html

    )

    VOA: Thưa ông, trong vài ngày qua

    chúng tôi đọc được trên internet lời kêu gọi của một số người Trung Quốc

    đòi thực hiện những cuộc biểu tình ở các thành phố lớn ở Trung Quốc, như

    Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu… vào ngày chủ nhật tới đây để phản

    đối điều mà họ cho là Việt Nam xâm phạm chủ quyền biển đảo của họ ở Biển

    Đông. Những người này cũng nói tới chuyện gọi là “lấy lại” đảo Bạch Long

    Vĩ, nơi mà năm ngoái Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã đến

    thăm và đưa ra một tuyên bố cứng rắn để bày tỏ quyết tâm bảo vệ lãnh

    thổ. Ông nghĩ sao về diễn tiến này?

    Hoàng Việt: Trước nhất, tôi không hiểu vì sao những người đó họ

    nói như vậy. Bởi vì như vậy thì có hai khả năng xảy ra: thứ nhất là họ

    họ có thể bẻ cong nó đi. Bởi vì đảo Bạch Long Vĩ cho đến bây giờ chưa

    bao giờ có tranh cãi pháp lý chính thức về chủ quyền đảo Bạch Long Vĩ

    cả. Bạch Long Vĩ là hoàn toàn của Việt Nam. Năm 1957 lúc đó Trung Quốc

    chiếm nhưng rồi trao lại cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Cái lý Trung cộng “trả lại” Bạch Long Vĩ, tôi đã nói ở trên!

    Như vậy có thể kết luận lại mục đích của ông Hồ và đảng cộng sản đã dùng

    công hàm 1958 để bán đảo HS-TS lấy vũ khí, trang bị của Trung cộng tiến

    hành cuộc chiến tranh cho thế giới cộng sản và gia tăng quyền lực. Tính

    hiếu chiến của ông Hồ thể hiện rất rõ qua những câu thơ của ông, ví như:

    Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào

    Tiến lên, chiến sĩ đồng bào…

    Thực ra ông Hồ không thương xót gì cho dân tộc. Qua những bài thơ, câu

    nói của ông ta thấy rõ ràng việc ông chỉ muốn chiến tranh nhằm củng cố đế

    chế đỏ.

    Đây là nhận xét của ông Yelsin về ông Hồ: “Ông dính dáng đến nhiều sự

    kiện trọng đại nhất của quốc gia, gây những lỗi lầm to lớn nhất!”.

    Và một trong những lỗi lầm đó là “Bán nước và Gây chiến tranh phi nghĩa”.

    Ngay sau khi chiến thắng ở Điện Biên Phủ, ông Hồ đã công nhận việc mình

    làm đơn giản không phải vì dân tộc: “Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng sản

    giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ”.

    Ông Hồ chính là kẻ ham quyền lực đỏ và không coi dân tộc là hàng đầu.

    Có thể kết luận: Ông Hồ là người cầm đầu VNDCCH lúc đó, về hệ

    thống chính trị tôi đã trình bày ở phần 2. Ông Hồ có quyền quyết định tất

    cả, ông Hồ chỉ vì mục tiêu chiến đấu cho cộng sản. Và như vậy không có gì

    ngạc nhiên khi ông chỉ đạo công hàm bán nước để có vũ khí chiến tranh với

    chính dân tộc mình. Một người không yêu tính mạng đồng bào, chỉ thích gây

    chiến cho phe nhóm cộng sản thì không thể yêu nước, sẵn sàng bán đất đai

    cho giặc. Ông Hồ và đảng cộng sản là những người chịu trách nhiệm chính

    trong cuộc chiến Việt Nam phi nghĩa và công hàm bán nước cho Trung cộng.

    Chúng ta phải làm gì?

    Trong khi phía VNCH ra sức giữ đảo thì phía VNDCCH lại dùng phần đất linh

    thiêng của dân tộc nhằm lấy vũ khí để thực hiện chiến tranh. Nhưng vấn đề

    trong công hàm của ông Phạm Văn Đồng do ông Hồ chỉ đạo để bán nước không

    dừng lại ở việc chúng ta có nguy cơ mất HS-TS về mặt đất đai mà còn là mất

    mát về vị trí quân sự cũng như các giếng dầu.

    Hệ lụy dẫn đến là Trung cộng ngang nhiên chiếm giữ Hoàng Sa, đòi Trường

    Sa và hiện nay liên tục bắt giữ ngư dân chúng ta trên vùng biển lẽ ra của

    chúng ta. Đơn cử chính là cái đường lưỡi bò man rợ. Chính phủ Việt Nam

    hiện nay không dám phản kháng. Họ biết rằng Bác Hồ của họ đã bán nước. Họ

    đành phản đối một cách gượng ép để tránh dư luận trong và ngoài nước. Câu

    hỏi được đặt ra có thể lấy lại được HS-TS hay không? Tôi xin trả lời là có

    thể.

    Trong khuôn khổ bài trước, tôi đã chứng minh việc công hàm 1958 là có

    thật, hành vi đó của ông Hồ và ông Đồng là hành vi bán nước. Tuy nhiên, để

    chiếm lại HS-TS chúng ta phải làm những việc sau.

    Việc thứ nhất, Công hàm 1958 không thông qua quốc hội như vậy vi hiến.

    Lúc đó HS-TS không thuộc quyền quản lý của VNDCCH. Như vậy, về pháp lý

    chúng ta vẫn có cơ sở để đòi lại. Việc này không biện hộ cho hành vi bán

    nước của ông Hồ, đây chỉ là khe hở pháp lý mà chúng ta cần nắm lấy.

    Việc thứ hai, Đảng cộng sản Việt Nam là con nuôi của Trung cộng. Lật đổ

    đảng cộng sản, chứng minh được hành vi vi hiến, bán nước của đảng và ông

    Hồ sẽ có một chính phủ hợp hiến, đồng thuận đứng lên vì dân tộc. Việc đó

    sẽ giúp ích cho việc lấy lại HS-TS. Chỉ khi không còn kẻ nội thù là đảng

    cộng sản và tàn dư thì mới có thể chống Trung cộng.

    Việc thứ ba, chính phủ dân chủ mới sẽ dựa vào Mỹ, đồng minh để đòi lại

    những gì vốn có của Việt Nam. Đoàn kết với đồng bào khắp nơi trên thế giới

    gây áp lực với Trung cộng.

    Ở bài này, tôi đã chứng minh cuộc chiến tranh từ du kích đến quy mô lớn ở

    Việt Nam là do ông Hồ và đảng cộng sản gây ra. Đây là cuộc chiến tranh phi

    nghĩa không phải theo lý do “giải phóng” dân tộc. Ông Hồ muốn chiến tranh

    để nâng cao quyền lực đế chế đỏ. Ông Hồ và đảng cộng sản là kẻ cầm đầu

    việc bán đất đai, biển đảo tổ tiên để đổi lấy vũ khí Trung cộng gây đau

    thương cho dân tộc.

    Chỉnh sửa, hoàn thiện: 15/06/2012

    Đặng Chí Hùng

    Dân Làm Báo Blog © 16.6.12

    http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-3-bac.html

     

    www.geocities.ws/xoathantuong

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nhà Báo Tỉnh Thái Nguyên
  • Câu Hỏi “Có Cần Giải Phóng Miền Nam Hay Không” Và Một Ngàn Cái Like Ngốc Nghếch
  • Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam
  • Phương Châm “Thần Tốc, Táo Bạo, Bất Ngờ, Chắc Thắng” Trong Tổng Tiến Công Mùa Xuân 1975
  • Tầm Nhìn Chiến Lược Và Sự Lãnh Đạo, Chỉ Đạo Của Đảng Đối Với Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước
  • Quỹ Tích Là Gì? Phương Pháp Giải Bài Toán Tìm Quỹ Tích

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Giải Bài Toán Quỹ Tích
  • Chương 0 Bài Giảng Điện Tử Xstk
  • Bài 1; Giải Tích Tổ Hợp.
  • Giải Tích Tổ Hợp To Hop Doc
  • Tàn Tích Quỷ Ám: Giải Mã Mối Quan Hệ Bí Ẩn Đến Ba Thế Hệ
  • Một hình H, theo định nghĩa, được gọi là quỹ tích của điểm M sẽ có tính chất T khi và chỉ khi hình H chứa các điểm có tính chất T.

    • Tập hợp các điểm bao gồm hai điểm A, B và tất cả những điểm nằm giữa A và B là đoạn thẳng AB.
    • Tập hợp các điểm cách đều hai điểm cố định chính là đường trung trực của đoạn thẳng nối hai điểm ấy.
    • Tập hợp các điểm cách đều hai cạnh của một góc chính là tia phân giác của góc đó.
    • Tập hợp các điểm cách đường thẳng (d) một khoảng bằng I là hai đường thẳng song song với (d) và sẽ cách đường thẳng (d) một khoảng chính bằng I.
    • Ta có tập hợp của các điểm cách điểm cố định O một khoảng bằng R chính là đường tròn tâm O, với bán kính R trong mặt phẳng và là mặt cầu O, R trong không gian ba chiều.
    • Tập hợp các điểm M tạo với hai đầu mút của đoạn thẳng AB cho trước một góc (widehat{AMB}) sẽ có số đo bằng (alpha) không đổi là hai cung tròn đối xứng nhau qua AB (được gọi là cung tròn chứa góc (alpha) vẽ trên đoạn AB).
    • Tập hợp những cặp điểm đối xứng nhau qua một đường thẳng là mặt phẳng chứa đường thẳng đó.
    • Tập hợp các điểm trong mặt phẳng với tổng khoảng cách tới hai điểm cố định cho trước (nằm trong mặt phẳng đó) chính là đường elíp nhận hai điểm cố định đó là tiêu điểm.
    • Tập hợp các điểm cách đều một điểm và một đường thẳng cố định sẽ là đường Parabol trong mặt phẳng đi qua điểm và đường cố định đó.

    Cách chuẩn bị giải bài toán quỹ tích

    Trước hết bạn cần tìm hiểu kĩ bài toán để nắm vững các yếu tố đặc trưng cho bài toán. Trong một bài toán quỹ tích thường sẽ xuất hiện 3 yếu tố sau đây:

    • Yếu tố cố định: Như các điểm, đoạn thẳng hay đường thẳng, ….
    • Yếu tố không đổi: Như độ dài đoạn thẳng, độ lớn của góc, ….
    • Yếu tố thay đổi: Thông thường là các điểm mà ta cần tìm quỹ tích, hoặc các đoạn thẳng, hoặc các hình mà trên đó chứa các điểm ta cần tìm quỹ tích.

    Để hiểu rõ hơn về các yếu tố trên ta xét các ví dụ sau đây:

    Ví dụ 1: Cho một góc vuông (widehat{xOy}) cố định và một đoạn thẳng AB có độ dài cho trước; đỉnh A di chuyển trên cạnh Ox, đỉnh B di chuyển trên cạnh Oy. Tìm tập hợp các trung điểm M của đoạn thẳng AB .

    Trong bài toán này chúng ta cần xác định 3 yếu tố đã nêu trên:

    • Yếu tố cố định là đỉnh O của góc vuông (widehat{xOy})
    • Yếu tố không đổi là độ dài của đoạn thẳng AB
    • Yếu tố thay đổi là điểm A, điểm B và do đó kéo theo trung điểm M của đoạn thẳng AB cũng thay đổi.

    Ví dụ 2: Cho một đường thẳng (b) và điểm A cố định không thuộc đường thẳng b. Một tam giác ABC có đỉnh B di chuyển trên đường thẳng (b) sao cho nó luôn luôn đồng dạng với chính nó. Tìm tập hợp đỉnh C.

    • Yếu tố cố định là đỉnh A và đường thẳng (b)
    • Yếu tố thay đổi là đỉnh B và đỉnh C
    • Yếu tố không đổi chính là hình dạng của tam giác ABC (AB = AC)

    Tóm lại: Qua 2 ví dụ trên ta cần chú ý:

    • Đôi khi các yếu tố đặc trưng trên không được cho một cách trực tiếp nên ta cần phải hiểu được một cách linh hoạt và sáng tạo.
    • Ở ví dụ 2, đề bài yêu cầu là tam giác đồng dạng với chính nó, vì thế ta cần lập ra hoặc chứng minh các giả thiết để tam giác ABC luôn đồng dạng (AB = AC). Thông qua việc đó giúp ta có thể giải bài toán một cách đơn giản hơn

    Thao tác đoán nhận quỹ tích giúp chúng ta có thể hình dung ra được hình dạng của quỹ tích (đoạn thẳng, đường thẳng, hình tròn, ….).

    Để đoán nhận quỹ tích ta thường tìm ba điểm của quỹ tích. Để có thể nhận được kết quả tốt và đơn giản nhất ta xét các điểm giới hạn của chúng, với điều kiện là vẽ hình chính xác.

    • Nếu ba điểm ta vẽ được không thẳng hàng thì nhiều khả năng quỹ tích là đường tròn
    • Nếu ba điểm ta vẽ được thẳng hàng thì khả năng quỹ tích sẽ là đường thẳng.

    Ví dụ về bài toán tìm quỹ tích điểm

    Cách giải bài toán quỹ tích

    Mọi điểm có tính chất T đều thuộc hình H. Thực chất của phần này là đi tìm hình dạng của quỹ tích (kiểm tra với một vài trường hợp cụ thể, dự đoán và sử dụng lặp luận để chứng minh quỹ tích cần tìm).

    Mọi điểm thuộc hình H đều có tính chất T. Mục tiêu của việc chứng minh phần đảo là xác minh lại một lần nữa (trong nhiều trường hợp thì việc xét phần đảo sẽ là cách chứng minh chắc chắn nhất cho lập luận của mình).

    • Bước 1: Xác định các yếu tố đặc trưng (yếu tố cố định, yếu tố không đổi, yếu tố thay đổi)
    • Bước 2: Biến đổi biểu thức vectơ cho trước về 1 trong 5 dạng toán sau:

    Dạng 4: Trong mặt phẳng, cho hai điểm A, B cố định và một điểm M di chuyển. Quỹ tích điểm M thỏa mãn: (overrightarrow{MA}.overrightarrow{MB}=0) là đường tròn (C) có (left ( O;frac{AB}{2} right ))

    Cách giải:

    Dạng 5: Trong mặt phẳng, cho hai điểm A,B cố định và một điểm M di chuyển có (overrightarrow{AM}.overrightarrow{AB}=0). Khi đó quỹ tích điểm M sẽ là đường thẳng (left ( Delta right )) đi qua A và vuông góc với AB.

    Một số bài tập tìm quỹ tích điểm

    Ví dụ 1: Cho (bigtriangleup ABC). Tìm tập hợp điểm M thỏa mãn (overrightarrow{MA}+2overrightarrow{MB}-overrightarrow{MC}=koverrightarrow{BC}left ( kne0 right ))

    Gọi (I) là trung điểm của AB. Ta có:

    (overrightarrow{MA}+2overrightarrow{MB}-overrightarrow{MC}=koverrightarrow{BC})

    (Rightarrowoverrightarrow{MA}+overrightarrow{MB}+overrightarrow{MB}-overrightarrow{MC}=koverrightarrow{BC})

    (Rightarrow2overrightarrow{MI}+overrightarrow{CB}=koverrightarrow{BC}) (do (I) là trung điểm của AB)

    (Rightarrow2overrightarrow{MI}=koverrightarrow{BC}-overrightarrow{CB})

    (Rightarrow2overrightarrow{MI}=koverrightarrow{BC}+overrightarrow{BC})

    Cách giải:

    (Rightarrow2overrightarrow{MI}=left (k+1 right )overrightarrow{BC})

    (Rightarrowoverrightarrow{MI}=left (frac{k+1}{2} right )overrightarrow{BC}) (tương ứng với dạng toán 1 đã nêu ở trên).

    Vậy quỹ tích điểm M là đường thẳng (left ( Delta right )) đi qua (I) và song song với BC

    Giả sử điểm (I) nằm giữa đoạn thẳng AB và thỏa mãn (2overrightarrow{IA}+3overrightarrow{IB}=overrightarrow{0})

    (giống với dạng 3 đã nêu ở trên)

    Vậy quỹ tích điểm M là đường tròn tâm (I) và bán kính = 1.

    • Giả sử điểm (I) thỏa mãn (2overrightarrow{IA}+3overrightarrow{IB}=overrightarrow{0})
    • Giả sử điểm (J) thỏa mãn (overrightarrow{JC}+4overrightarrow{JD}=overrightarrow{0})

    (giống với dạng toán 2 đã nêu ở trên).

    Vậy quỹ tích điểm M là đường thẳng (left ( Delta right )) là trung trực của (IJ)

    Ví dụ 4: Cho (bigtriangleup ABC). Tìm tập hợp điểm M sao cho (overrightarrow{AM}.overrightarrow{AB}=AM^2)

    Cách giải:

    (overrightarrow{AM}.overrightarrow{AB}=overrightarrow{AM}.overrightarrow{AM}\Rightarrowoverrightarrow{AM}.overrightarrow{AB}-overrightarrow{AM}.overrightarrow{AM}=0\Rightarrowoverrightarrow{AM}.left ( overrightarrow{AB}-overrightarrow{AM} right )=0\Rightarrowoverrightarrow{AM}.overrightarrow{MB}=0\Rightarrow-overrightarrow{MA}.overrightarrow{MB}=0\Rightarrowoverrightarrow{MA}.overrightarrow{MB}=0)

    (giống dạng toán 4 đã nêu ở trên)

    Vậy quỹ tích điểm M là đường tròn tâm O bán kính là (frac{AB}{2}).

    • Gọi (I) là trung điểm của BC (Rightarrowoverrightarrow{MB}+overrightarrow{MC}=2overrightarrow{MI})
    • Gọi G là trọng tâm của (bigtriangleup ABCRightarrowoverrightarrow{GA}+overrightarrow{GB}+overrightarrow{GC}=overrightarrow{0})
    • Ta thấy A cố định (giả thiết) và (I) là trung điểm của BC suy ra (I) cố định. (1)
    • G là trọng tâm của (bigtriangleup ABC) suy ra G cố định (2)

    Từ (1) và (2) suy ra quỹ tích của điểm M là đường tròn tâm G, bán kính là (2IA)

    Ví dụ 6: Trên mặt phẳng cho 2 điểm A,B cố định. Tìm tập hợp điểm M sao cho (AM^2+overrightarrow{AM}.overrightarrow{MB}=0)

    (AM^2+overrightarrow{AM}.overrightarrow{MB}=0\ Rightarrowoverrightarrow{AM}.overrightarrow{AM}+overrightarrow{AM}.overrightarrow{MB}=0\ Rightarrowoverrightarrow{AM}.left (overrightarrow{AM}+overrightarrow{MB} right )=0\ Rightarrowoverrightarrow{AM}.overrightarrow{AB}=0)

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tàn Tích Quỷ Ám
  • ‘tàn Tích Quỷ Ám’: Mối Quan Hệ Thần Bí Giữa Ba Thế Hệ
  • ‘tàn Tích Quỷ Ám’: Câu Chuyện Rùng Rợn Đằng Sau Căn Bệnh Mất Trí
  • ‘tàn Tích Quỷ Ám’: Khi Nhà Là Nơi Ta… Không Dám Trở Về
  • Đánh Giá Phim Tàn Tích Quỷ Ám
  • Giải Sbt Tin Học Lớp 4 Bài 1: Những Gì Em Đã Biết (Trang 3)

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Đề Thi Học Kì 2 Môn Tin Học Lớp 8 Có Đáp Án Năm 2022
  • Đề Cương Ôn Thi Học Kì 2 Môn Tin Học Lớp 8 Năm 2022
  • Tin Học 8 Bài 11: Giải Toán Và Vẽ Hình Phẳng Với Geogebra
  • Gợi Ý Bài Tập Sgk Bài 6 Tin Học 8
  • Hướng Dẫn Giải Bài 1 2 3 4 5 Trang 43 44 Sgk Gdcd 8
  • Để học tốt Tin học lớp 4, phần dưới là các bài giải bài tập sách Bài tập Cùng học Tin học Quyển 2 lớp 4 Bài 1: Những gì em đã biết (trang 3). Bạn vào tên bài hoặc Xem lời giải để theo dõi bài giải soạn bài tập Tin học lớp 4 tương ứng.

    Giải SBT Tin học lớp 4 Bài 1: Những gì em đã biết (trang 3)

    Bài 1 trang 3 SBT Tin học lớp 4:

    Đây là thư điện tử của bạn Tý Lade gửi cho Miu Miu

    Em hãy cho biết:

    Địa chỉ hộp thư điện tử của Tý Lade?

    Địa chỉ hộp thư điện tử của Miu Miu?

    Lời giải:

    Địa chỉ hộp thư điện tử của Tý Lade:

    Bài 2 trang 4 SBT Tin học lớp 4

    Lời giải:

    Bài 3 trang 5 SBT Tin học lớp 4

    Miu nằm mơ thấy mình lạc vào mê cung với rất nhiều phòng, mỗi phòng có một quà tặng. Chợt Bụt hiện lên đưa cho Miu một tờ giấy và nói với em rằng: “Cháu hãy tìm các bộ phận và lắp xong một máy tính thì ta sẽ thưởng cho cháu cái máy tính đó và tất cả quà tặng có trong mê cung này. Cháu hãy viết các dòng lệnh ra giấy rồi ta sẽ sai Robot Ngộ Không thực hiện các lệnh đó”. Miu mừng rỡ cám ơn Bụt rồi mở tờ giấy ra thì có các dòng sau đây:

    Robot Ngộ Không hiện đang ở cùng phòng với cháu đấy, nhưng cháu không nhìn thấy đâu, vì Ngộ Không đang tàng hình. Cháu nhớ tìm lấy các bộ phận theo thứ tự: Bộ xử lí – Màn hình – Bàn phím – Chuột

    Lời giải:

    1. Robot và Miu đang đứng tại phòng 9. Muốn ra lệnh cho Robot đến phòng 7 để lấy bộ xử lí (đặt trong thùng đựng thân máy) Miu phải viết: T2

    2. Sau khi lấy bộ xử lí, Robot đứng tại phòng 7. Muốn đến phòng 18 để lấy màn hình Robot phải đi xuống 1 phòng rồi đi sang phải 5 phòng. Do đó Miu phải viết 2 dòng lệnh:

    X1

    P5

    3. Từ phòng 18 Robot phải đi tiếp đến phòng 4 để lấy bàn phím. Vậy Miu phải viết 2 dòng lệnh:

    L2

    T2

    4. Cuối cùng, Robot phải đi từ phòng 4 đến phòng 14 để lấy chuột. Vây Miu phải viêt 2 dòng lệnh.

    X2

    T2

    Bài 4 trang 7 SBT Tin học lớp 4

    Chủ Nhật này Miu xây dựng một thời gian biểu với khá nhiều việc. Bé Bống, em gái Miu, đọc thời gian biểu của anh rồi nói: “Nhiều việc quá anh Miu ơi. Chắc chắn anh không làm hết đâu”. Miu nói: “Anh sẽ làm xong, vì anh dùng máy tính và mạng Internet. Nhà mình lại có sẵn máy in”.

    Theo em, Miu sẽ sử dụng máy tính, máy in và mạng Internet vào những công việc nào?

    Em hãy điền vào các ô trống ứng với mỗi công việc trong thời gian biểu trên các số 0, 1, 2, 3 hoặc 4 nếu em đoán rằng khi thực hiện công việc đó Miu sẽ:

    0 – không dùng máy tính

    1 – dùng máy tính

    2 – dùng máy tính và mạng Internet

    3 – dùng máy tính và máy in

    4 – dùng máy tính, máy in và mạng Internet.

    Lời giải:

    Bài 5 trang 8 SBT Tin học lớp 4

    Cặp sách của em có thể chứa được 20 quyển vở. Hiện này trong cặp của em đã có 12 quyển. Vậy

    Lời giải:

    A. Sức chứa của cặp sách là: 20

    B. Sức chứa hiện dùng của cặp sách là: 12

    C. Sức chứa còn lại của cặp sách là: 8

    Bài 6 trang 9 SBT Tin học lớp 4

    Bể chứa nước sinh hoạt trên mái nhà em có:

    Lời giải:

    A. Dung lượng là 2000 lít

    B. Dung lượng hiện dùng là 1200 lít

    C. Dung lượng còn lại là: 800 lít

    Bài 7 trang 9 SBT Tin học lớp 4

    Với các thiết bị ghi thông tin trong máy tính người ta dùng các đơn vị đo dung lượng như sau:

    Lời giải:

    Bài 8 trang 9 SBT Tin học lớp 4

    USB của Miu có thể chứa thêm ba bản sách điện tử Cùng học Tin học hay không?

    Cùng học tin học Quyển 1: 8 MB

    Cùng học tin học Quyển 2: 10 MB

    Cùng học tin học Quyển 3: 12 MB

    Lời giải:

    Em giải thích:

    A. Dung lượng của USB là: 256 MB.

    B. Dung lượng hiện dùng của USB là 200 MB.

    C. Dung lượng còn lại của USB là 44 MB.

    D. Tổng dung lượng của 3 quyển Cùng học Tin học điện tử là:

    8 + 10 + 12 = 30 MB

    Vậy USB của bạn Miu có thể chứa thêm ba bản sách điện tử Cùng học Tin học.

    Bài 9 trang 10 SBT Tin học lớp 4

    Bảo quản đĩa mềm, đĩa CD, đĩa cứng hoặc các thiết bị nhớ flash.

    Lời giải:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tin Học 8 Bài Bài Thực Hành 1: Làm Quen Với Free Pascal
  • Giải Bài Tập Sgk Tin Học 8 Bài 5
  • Giải Bài Tập Tin Học 11 Trang 50, 51
  • Tin Học 8 Bài 8: Lặp Với Số Lần Chưa Biết Trước
  • Tin Học 8 Bài 9: Làm Việc Với Dãy Số
  • Những Sự Thật Không Thể Chối Bỏ (Phần 3) Bác, Đảng Đã Bán Những Gì Và Để Làm Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Mien Nam Duoc Giai Phong Nhung Thu Gi
  • Sự Thật Về Cuộc Di Tản Trước Giải Phóng Miền Nam Năm 1975
  • Tại Sao Giải Phóng Hoàn Toàn Miền Bắc Tạo Cơ Sở Để Giải Phóng Hoàn Toàn Miền Nam Thống Nhất Đất Nước(Kháng Chiến Chóng Thực Dân Pháp 1945
  • Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975: Chủ Trương, Kế Hoạch, Diễn Biến, Kết Quả Và Ý Nghĩa 1.
  • Tập Thơ Chào Mừng Kỷ Niệm Ngày Giải Phóng Miền Nam, Thống Nhất Đất Nước
  • Đặng Chí Hùng

    Tôi xin tiếp tục phần ba này với việc đề cập đến lý do có công hàm bán nước 1958 và những hệ lụy của nó đến bây giờ. Rất mong đây là tiếng nói góp sức cho sự hồi sinh của dân tộc. Qua đây tôi mong sau khi các bài viết được Danlambao đăng, bạn đọc nên tìm hiểu rồi dùng chính mình làm chiến sĩ thông tin như slogan của Danlambao đã gửi đến cho người thân quen của mình.

    Về nội dung bài viết, tôi xin phép bạn đọc hết sức thông cảm vì phải lấy dẫn chứng cả hai phía: Dân và Đảng để minh chứng nên bài có thể viết dài, không súc tích. Tôi xin phép dùng một quy tắc đại loại gần giống với phép quy nạp và phản chứng trong toán học để chứng minh nên bài viết sẽ dài, chia làm từng phần nhỏ để kết luận.

    Tại sao phải bán nước?

    Như đã nói ở phần 2, công hàm 14/9/1958 là một công hàm bán nước của ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản mà người đứng ký tên là ông Phạm Văn Đồng (Thủ tướng VNDCCH). Vậy tại sao họ phải bán Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung cộng? Tôi xin đi vào phân tích ở đây.

    1. Bối cảnh lịch sử hai miền Nam – Bắc:a. Về đời sống và kinh tế:

    Tại Miền Nam dưới sự lãnh đạo của ông Ngô Đình Diệm, cùng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ nhằm khôi phục kinh tế và nâng cao dân trí. Trong thời điểm miền bắc có cải cách ruộng đất gây tai họa thì miền nam cũng có cải cách điền địa và “Người cày có ruộng” mang lại niềm vui cho nhân dân. Chính vì có những chính sách hợp lý, chế độ dân chủ, nên nửa trong của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng. Bằng chứng là Sài Gòn được coi là ” Hòn Ngọc Viễn đồng”.

    Về mặt kinh tế và đời sống này tôi xin không cần quá dài dòng vì đó là sự thật với tất cả chúng ta. Sự thật ấy đã khiến cho bao người miền bắc ngỡ ngàng sau năm 1975 được vào Sài Gòn. Nói đến bối cảnh đó để nói lên một điều sự thực đó là nhân dân miền nam sống sung túc hơn miền bắc rất nhiều. Tôi xin nêu ra một ví dụ nhỏ để so sánh.

    Số liệu và nhận xét trên wiki: http://vi. wikipedia. org/wiki/Kinh_tế_Việt_Nam_Cộng_hòa:

    Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tích cực triển khai chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được dựng lên để bảo hộ một loạt ngành công nghiệp nhẹ. Kết quả phải kể đến nhà máy giấy đầu tiên ở Việt Nam: nhà máy giấy Cogido An Hảo (1961) ở Biên hòa, thỏa mãn 30-40% nhu cầu tiêu thụ giấy trong nước . Đồng thời, các loại máy móc, kim loại – những đầu vào cho các ngành được bảo hộ – được ưu tiên nhập khẩu. Trong khi hạn chế nhập khẩu, xuất khẩu được khuyến khích. Một số mặt hàng xuất khẩu còn được chính quyền trợ cấp. Ngay cả tỷ giá hối đoái cũng được điều chỉnh thuận lợi cho xuất khẩu (thông qua trừ đi một mức phụ đảm).

    Ở nông thôn thì Cải cách ruộng đất (lúc đó gọi là “Cải cách điền địa”) được triển khai từ năm 1955 và kéo dài tới cuối năm 1960. Những ruộng đất của địa chủ bỏ hoang sẽ bị thu hồi và cấp cho tá điền. Địa chủ không được phép sở hữu quá 100 hecta đất (riêng các đồn điền dù hơn 100 ha vẫn được phép). Số dư ngoài 100 ha sẽ bị buộc phải bán cho chính quyền để bán lại cho tá điền. Tá điền được yêu cầu lập hợp đồng khai thác ruộng đất với địa chủ, gọi là khế ước tá điền trong đó có ghi mức địa tô mà tá điền phải trả cho địa chủ. Thời hạn khế ước là 5 năm, có tái ký. Tá điền có quyền trả đất và phải báo trước chủ đất 6 tháng.

    Về thu nhập bình quân, theo “số liệu kinh tế – GDP” bình quân, ở miền Nam vào thời trước 1975 là 150USD. Thu nhập này tuy chưa cao mấy thời đó, nhưng cao hơn ở các nước Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, và Pakistan. Trong khi đó 36 năm sau, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là khoảng 1100 USD, thua xa Thái Lan (khoảng 4000 USD).

    Về giáo dục đại chúng, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, năm 1973, tỉ lệ dân số biết đọc, biết viết là 70%, rất cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó. Hiện nay, tỉ lệ dân số biết đọc và viết là 90%. Ba mươi sáu năm, chỉ tăng 20%?

    Như vậy kinh tế của VNCH khiến cho nhân dân không có gì phải phàn nàn so với miền bắc.

    Ngoài ra việc tự do báo chí, lập đoàn lập hội, phản kháng chính phủ cũng tạo cho VNCH một đời sống chính trị thoải mái và tự do. Ở đó con người có quyền của con người đúng nghĩa. Tuy chưa hoàn thiện nhưng so với miền bắc là cả một sự đối lập tương phản.

    Có thể kết luận: Về mặt kinh tế và đời sông, miền Nam hơn hẳn miền Bắc. Như vậy không có lý do gì miền Bắc có đời sống thấp kém hơn, kinh tế thấp hơn phải đi “giải phóng” cho miền Nam trù phú, giàu sức sống hơn. Lý do “giải phóng” về mặt kinh tế và đời sống là hoàn toàn bị bác bỏ.

    b. Về mặt quân sự:

    Đặc biệt về quân sự, có nhiều ý kiến cho rằng lúc đó VNDCCH lo sợ VNCH bắc tiến. Nhưng trên thực tế cho đến 1956 thì quân đội VNCH chủ yếu lo bảo vệ đất nước là chính. Họ chưa đủ trang bị và con người để trở thành “Nguy cơ” với Bắc Việt. Ví dụ như sau 1968 thì QLVNCH mới được trang bị M-16, trong khi đó quân đội VNDCCH lại có Ak-47 từ trước đó. Xin cho một thống kê nguồn wiki:

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Lịch_sử_Quân_lực_Việt_Nam_Cộng_hòaNăm 1956: Bộ Tổng tham mưu dời vào trại Trần Hưng Đạo, gần cổng vào phi trường Tân Sơn Nhất, và bắt đầu cải tiến toàn bộ cơ cấu tổ chức. Các tiểu đoàn bộ binh được tổ chức lại thành 4 sư đoàn dã chiến (1, 2, 3, 4) và 6 sư đoàn khinh chiến (11, 12, 13, 14, 15, 16). Mỗi sư đoàn khoảng hơn 5.000 người. Pháo binh có thêm tiểu đoàn 23, 25, 34. Tiểu Đoàn 34 là đơn vị đầu tiên được trang bị đại bác 155 mm. Cùng năm 1956, mỗi sư đoàn bộ binh được trang bị thêm 2 tiểu đoàn pháo binh với 18 khẩu 105 mm. Không quân tiếp nhận thêm căn cứ Tân Sơn Nhất và căn cứ Biên Hòa. Cả hai đổi thành Căn cứ trợ lực không quân số 2 và số 3. Hải quân bắt đầu tiếp nhận tàu chiến từ Hải quân Hoa Kỳ gồm 31 chiến hạm với 193 chiến đỉnh.

    Chú ý: với quân số 1 sư đoàn 5000 người thì thực tế so với lúc này QLVNCH chỉ có 5 sư đoàn đúng nghĩa (Quân số khoảng 10000 người).

    Trong cuốn ” Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua ” (NXb Sự thật – Cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) có viết:

    (links: http://www. vnmilitaryhistory. net/index. php?PHPSESSID=d5ae9dabfb9594328e836b81fb7a991a&topic=9915.0):

    Sự thật là sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mỹ không có khả năng can thiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dương. Thái độ cứng rắn của Mỹ ở Hội nghị Giơnevơ chẳng qua là do Mỹ sợ Pháp vì bị thua ở chiến trường, có nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, tài chính, có thể chấp nhận một giải pháp không có lợi cho việc Mỹ nhảy vào Đông Dương sau này.

    Như vậy lý do có áp lực quân sự từ VNCH là không có. Người Mỹ đã không có khả năng can thiệp vào Việt Nam lúc đó như tài liệu phía cộng sản tôi vừa trích dẫn, Mỹ chỉ nhảy vào tham chiến sau này. Xét bối cảnh cho đến trước 1958 (Có công hàm bán nước) thì về quân sự VNDCCH nắm thế chủ động và VNCH cùng Mỹ chưa đủ sức gây sức ép!

    Có thể kết luận: Về mặt quân sự, phía VNCH, Mỹ không có áp lực đáng kể nào có thể khiến cho VNDCCH phải “sợ” như các biện hộ cho việc dựa vào Trung cộng, Liên xô tiến đánh miền Nam.

    c. Kết luận:

    Về bối cảnh lịch sử cho thấy nhân dân miền Bắc có chất lượng sống không bằng miền Nam. Chúng ta phải hiểu rằng nhân dân miền Bắc có thể mù tịt thông tin trong Nam. Nhưng các vị lãnh đạo thì họ quá rõ nhờ hệ thống gián điệp chằng chịt, sách báo thông tin chỉ mình họ có. Lãnh đạo cộng sản cũng không phải là tay mơ. Vậy việc họ biết thừa rằng chẳng có lý do gì cần phải “Giải phóng” miền Nam. Nếu là một chính quyền hoạt động theo đúng tôn chỉ “Vì dân” thì họ sẽ không tiến hành chiến tranh để làm cho nhân dân 2 miền đều khổ cực trong bối cảnh nhân dân bên phía kia sống sung sướng. Nhân dân Nam Bắc đều là nhân dân Việt Nam cả. Hơn thế nữa trong bối cảnh không chịu áp lực quân sự thực sự thì lý do gây chiến là đâu?

    Vậy chỉ có một lý do đó là lãnh đạo cộng sản miền Bắc phải có sứ mệnh cao hơn cả cuộc sống bình yên của nhân dân mới khiến họ nướng dân trên ngọn lửa hung tàn chiến tranh. Đó chính là: Ý thức hệ và quyền lực.

    Cuộc chiến mà đảng cộng sản tuyên truyền thực ra không “giải phóng” cho ai mà đơn thuần là cuộc chiến cho Ý thức hệ cộng sản chỉ huy bởi Liên xô và Trung cộng. Lý giải cho kết luận này tôi xin nói về câu nói nổi tiếng của ông Hồ: “Ông Diệm cũng là người yêu nước nhưng theo cách của ông ấy”. Nếu nói như ông Hồ thì ông không thể coi ông Diệm là người phản bội dân tộc và như vậy cớ gì phải “giải phóng”? Cả về con người, lãnh tụ, kinh tế, quân sự thì có thể kết luận ngoài vấn đề chiến tranh cho ý thức hệ, cho quyền lực đỏ chẳng có lý do nào để giải thích cho cuộc chiến phi nghĩa ở Việt Nam.

    Thậm chí cái lý do “thống nhất đất nước” cũng không thể chấp nhận được. Nếu để thống nhất không thiếu gì con đường thông qua ngoại giao, hòa bình. Hơn thế, khi ký công hàm 1958, ông Hồ đã cho thấy lý do “thống nhất” là một trò hề. Thống nhất không thể đem một phần đất đai của tổ quốc dâng cho giặc được.

    Câu nói nổi tiếng của ông Lê Duẩn: “Ta Đánh Miền Nam là Đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc…” đã thay cho lời kết luận của tôi.

    (Links: http://www.baomoi.com/Chuyen-it-biet-ve-quan-he-Viet–Trung-thoi-chong-My/122/3269339. epi)

    Những người ở lứa tuổi tôi (và trẻ hơn hai mươi, hai nhăm tuổi) hiện nay đều không quên những viện trợ to lớn của nhân dân Trung Quốc anh em cho chúng ta trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Từ vũ khí đạn dược đến gạo ăn vải mặc, từ ô tô, tầu thủy, máy bay đến chiếc xe đạp, máy khâu, từ gói mì chính đến cái kim sợi chỉ…, không sao kể hết.

    Tôi còn nhớ, từ chiếc mũ cối và đôi dép cao su Việt Nam đưa mẫu sang, các kỹ sư và công nhân Trung Quốc đã chế tạo cho quân đội ta và nhân dân ta những chiếc mũ cối và đôi dép lốp nổi tiếng một thời.

    … Ít người Việt Nam được biết những con tầu Giải phóng tải trọng chỉ có 50 tấn nhưng dùng động cơ mạnh tới 800 mã lực (nghĩa là có tốc độ rất nhanh) để có thể từ một cảng miền Bắc chở vũ khí, lương thực… vào cập bến tại một nơi ở vùng giải phóng miền Nam rồi trở lại ngay miền Bắc trong đêm đã được các kỹ sư và công nhân một nhà máy đóng tầu Trung Quốc thiết kế và chế tạo xong trong một thời gian ngắn kỷ lục theo yêu cầu của chúng ta.

    Đây chỉ là một ví dụ trong rất nhiều ví dụ về sự “giúp đỡ” của Trung cộng. Trung cộng thực chất giúp đỡ ông Hồ và đảng cộng sản nhằm 2 mục tiêu: Lan truyền đế chế cộng sản đỏ, Đổi lấy 2 đảo chiến lược và khu vực nhiều dầu mỏ của Việt Nam. Dã tâm ấy được thể hiện qua công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng dưới sự chỉ đạo của ông Hồ (Như đã chứng minh ở phần 2).

    Luận điểm này có thể hiểu rằng: Một kẻ tham lam, xấu bụng như Trung Cộng, việc giúp đỡ này không thể “vô tư”. Nó dứt khoát phải kèm theo điều kiện. Điều kiện đó là: Hoàng Sa- Trường Sa.

    3. Bác và đảng đã bán những gì?

    Trên thực tế, để chiến đấu cho quyền lực cộng sản “Đánh cho Liên xô, cho Trung Quốc” thì đảng cộng sản Việt Nam cần vũ khí, tiền. Liên xô giúp đỡ nhưng họ không giúp như Trung cộng. Trung cộng với tư tưởng đại hán và mộng đô hộ Việt Nam ta suốt 4000 năm đã không bỏ qua cơ may đó. Họ đã ngấm ngầm thỏa thuận để đổi vũ khí lấy đất đai. Trong công hàm 1958 tôi đã nêu trong bài trước (bài số 2), việc bán quần đảo HS-TS là có thật, không thể phủ nhận.

    Việc mua bán này đã được chính các quan chức cộng sản thừa nhận một cách lập lờ. Chúng ta không quên việc ông Đồng đã nói kiểu lập lờ: “Lúc đó thời chiến phải nói thế”. Thực ra ở đây câu nói đó ý muốn ám chỉ việc lúc đó cần tiền, cần vũ khí để bán đảo cho Trung cộng. Như vậy việc trao đổi là hoàn toàn hợp lý. Một bên cần vũ khí chiến tranh, một bên cần đảo và dầu mỏ.

    Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam qua cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”. Ở trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú nhận:

    “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc… Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ… Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác”.

    Điều này cho thấy người cộng sản chưa dám nói thẳng ra Trung cộng “lợi dụng” cái gì rõ rệt, họ sợ tội BÁN NƯỚC. Nhưng đây có thể coi như lời thừa nhận xương máu cho cuộc chiến tranh Nam Bắc là vô nghĩa, và cái thứ để “lợi dụng” kia chính là HS-TS.

    Trung cộng luôn lợi dụng việc “giúp đỡ” để giành đất của chúng ta. Thực ra ông Hồ và đảng cộng sản ban đầu có ý định bán cả đảo Bạch Long Vĩ. Tuy nhiên câu chuyện về hòn đảo Bạch Long Vĩ có hơi khác vì nó là khúc xương khó nhằn hơn HS-TS. Đó cũng là điều còn may mắn cho dân tộc.

    Hẳn nhiều người còn nhớ, năm 1955, khi quân đội Pháp thi hành Hiệp định Geneve, rút khỏi khu 300 ngày, tập kết vào dưới vĩ tuyến 17. Thời kỳ này quân đội Việt Minh từ các chiến khu trở về tiếp quản khu vực Quảng Ninh, Hải Phòng, Kiến An chưa có lực lượng hải quân. Biết được điều đó, Trung cộng đã tự ý đổ bộ vào tiếp quản đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam. Đảo Bạch Long Vĩ nằm trong vịnh Bắc Bộ, chỉ cách cảng Hải Phòng hơn 120 km. Trung cộng đã chuyên chở sắt thép, xi măng ra đảo, xây dựng công sự kiên cố, bộc lộ ý đồ chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ lâu dài. Sau đó Trung cộng đã trả lại cho Việt Nam năm 1956. Lý do Trung cộng trả lại cho Việt Nam không phải Trung cộng tốt đẹp gì. Chỉ bởi vì đó là khúc xương khó nuốt. Đảo Bạch Long Vĩ không thể là của Trung cộng dựa trên luật biển (quá gần cảng Hải Phòng), nếu chiếm sẽ thành quá lố và chịu áp lực quốc tế. Và so sánh vị trí chiến lược cũng như vàng đen thì HS-TS hơn hắn. Và đảng cộng sản Việt Nam đương nhiên không muốn việc mất Bạch Long Vĩ. Họ làm thế sẽ lộ rõ mưu mô bán nước cho nhân dân ta, họ không dại gì làm điều này nên đã yêu cầu Trung cộng rút, Trung cộng nhẹ nhàng rút bỏ.

    Đây là lời phát biểu của ông Thạc sỹ Hoàng Việt (của cộng sản) với VOA: (bài viết trên biendong. net )

    (Links: http://biendong.net/su-kien/375-tranh-chp-bin-ong-phng-vn-thc-s-hoang-vit-v-cong-ham-phm-vn-ng.html )

    Như vậy có thể kết luận lại mục đích của ông Hồ và đảng cộng sản đã dùng công hàm 1958 để bán đảo HS-TS lấy vũ khí, trang bị của Trung cộng tiến hành cuộc chiến tranh cho thế giới cộng sản và gia tăng quyền lực. Tính hiếu chiến của ông Hồ thể hiện rất rõ qua những câu thơ của ông, ví như:

    Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào

    Tiến lên, chiến sĩ đồng bào…

    Thực ra ông Hồ không thương xót gì cho dân tộc. Qua những bài thơ, câu nói của ông ta thấy rõ ràng việc ông chỉ muốn chiến tranh nhằm củng cố đế chế đỏ.

    Đây là nhận xét của ông Yelsin về ông Hồ: “Ông dính dáng đến nhiều sự kiện trọng đại nhất của quốc gia, gây những lỗi lầm to lớn nhất!”. Và một trong những lỗi lầm đó là “Bán nước và Gây chiến tranh phi nghĩa”.

    Ngay sau khi chiến thắng ở Điện Biên Phủ, ông Hồ đã công nhận việc mình làm đơn giản không phải vì dân tộc: “Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ”. Ông Hồ chính là kẻ ham quyền lực đỏ và không coi dân tộc là hàng đầu.

    Có thể kết luận: Ông Hồ là người cầm đầu VNDCCH lúc đó, về hệ thống chính trị tôi đã trình bày ở phần 2. Ông Hồ có quyền quyết định tất cả, ông Hồ chỉ vì mục tiêu chiến đấu cho cộng sản. Và như vậy không có gì ngạc nhiên khi ông chỉ đạo công hàm bán nước để có vũ khí chiến tranh với chính dân tộc mình. Một người không yêu tính mạng đồng bào, chỉ thích gây chiến cho phe nhóm cộng sản thì không thể yêu nước, sẵn sàng bán đất đai cho giặc. Ông Hồ và đảng cộng sản là những người chịu trách nhiệm chính trong cuộc chiến Việt Nam phi nghĩa và công hàm bán nước cho Trung cộng.

    Chúng ta phải làm gì?

    Trong khi phía VNCH ra sức giữ đảo thì phía VNDCCH lại dùng phần đất linh thiêng của dân tộc nhằm lấy vũ khí để thực hiện chiến tranh. Nhưng vấn đề trong công hàm của ông Phạm Văn Đồng do ông Hồ chỉ đạo để bán nước không dừng lại ở việc chúng ta có nguy cơ mất HS-TS về mặt đất đai mà còn là mất mát về vị trí quân sự cũng như các giếng dầu.

    Hệ lụy dẫn đến là Trung cộng ngang nhiên chiếm giữ Hoàng Sa, đòi Trường Sa và hiện nay liên tục bắt giữ ngư dân chúng ta trên vùng biển lẽ ra của chúng ta. Đơn cử chính là cái đường lưỡi bò man rợ. Chính phủ Việt Nam hiện nay không dám phản kháng. Họ biết rằng Bác Hồ của họ đã bán nước. Họ đành phản đối một cách gượng ép để tránh dư luận trong và ngoài nước. Câu hỏi được đặt ra có thể lấy lại được HS-TS hay không? Tôi xin trả lời là có thể.

    Trong khuôn khổ bài trước, tôi đã chứng minh việc công hàm 1958 là có thật, hành vi đó của ông Hồ và ông Đồng là hành vi bán nước. Tuy nhiên, để chiếm lại HS-TS chúng ta phải làm những việc sau.

    Việc thứ nhất, Công hàm 1958 không thông qua quốc hội như vậy vi hiến. Lúc đó HS-TS không thuộc quyền quản lý của VNDCCH. Như vậy, về pháp lý chúng ta vẫn có cơ sở để đòi lại. Việc này không biện hộ cho hành vi bán nước của ông Hồ, đây chỉ là khe hở pháp lý mà chúng ta cần nắm lấy.

    Việc thứ hai, Đảng cộng sản Việt Nam là con nuôi của Trung cộng. Lật đổ đảng cộng sản, chứng minh được hành vi vi hiến, bán nước của đảng và ông Hồ sẽ có một chính phủ hợp hiến, đồng thuận đứng lên vì dân tộc. Việc đó sẽ giúp ích cho việc lấy lại HS-TS. Chỉ khi không còn kẻ nội thù là đảng cộng sản và tàn dư thì mới có thể chống Trung cộng.

    Việc thứ ba, chính phủ dân chủ mới sẽ dựa vào Mỹ, đồng minh để đòi lại những gì vốn có của Việt Nam. Đoàn kết với đồng bào khắp nơi trên thế giới gây áp lực với Trung cộng.

    Ở bài này, tôi đã chứng minh cuộc chiến tranh từ du kích đến quy mô lớn ở Việt Nam là do ông Hồ và đảng cộng sản gây ra. Đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa không phải theo lý do “giải phóng” dân tộc. Ông Hồ muốn chiến tranh để nâng cao quyền lực đế chế đỏ. Ông Hồ và đảng cộng sản là kẻ cầm đầu việc bán đất đai, biển đảo tổ tiên để đổi lấy vũ khí Trung cộng gây đau thương cho dân tộc.

    Chỉnh sửa, hoàn thiện: 15/06/2012

    Đặng Chí Hùng

    Dân Làm Báo Blog © 16.6.12

    http://danlambaovn.blogspot.com/2012/06/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-3-bac.html

    www.geocities.ws/xoathantuong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Sự Thật Về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
  • Những Hình Ảnh Lịch Sử Giải Phóng Miền Nam
  • Kế Hoạch Giải Phóng Miền Nam Được Bộ Chính Trị Tw Đảng Đề Ra Trong 2 Năm Đó Là Năm Nào?
  • Ban Liên Lạc Truyền Thống Cục Chính Trị Quân Giải Phóng Miền Nam Họp Mặt Truyền Thống
  • Gặp Người Cắm Lá Cờ Quân Giải Phóng Ngày 30
  • Phân Tích Swot Là Gì? Hướng Dẫn A

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Sách Bài Tập Vật Lí 9
  • Học Phần Lý Thuyết Mô Hình Toán Kinh Tế 1
  • Cơ Học Ứng Dụng Phần Bài Tập Nguyễn Nhật Lệ, 284 Trang
  • Giảng Giải Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Chương 1
  • Giảng Giải Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Chương 2
  • Có lẽ bạn cũng thấy,

    Đại dịch Covid-19 càn quét chỉ vài tháng ngắn ngủi nhưng đã khiến không ít doanh nghiệp lớn nhỏ phải “ngừng cuộc chơi” một cách cay đắng, đồng thời lại là cơ hội cho nhiều doanh nghiệp khác trở mình mạnh mẽ.

    Điểm chung của những doanh nghiệp có thể xoay sở được qua cơn đại dịch này chính là họ biết cải thiện điểm yếu, phát huy điểm mạnh kịp thời. Đúng thời điểm – đúng phương thức.

    Còn doanh nghiệp bạn thì sao?

    Bây giờ đại dịch đã qua, nhưng sẽ thế nào nếu còn những thách thức tiềm tàng khác vẫn đang chờ đợi? Bạn đã có chiến lược thấu hiểu và xây dựng doanh nghiệp đủ vững mạnh để vượt qua?

    Và bạn đã có chiến lược phục hồi doanh nghiệp đúng cách sau những biến chuyển lớn vừa rồi?

    Nghiên cứu và tự mình phân tích SWOT phục hồi tăng trưởng, cải thiện doanh số ngay sau đây!

    SWOT là gì?

    SWOT là viết tắt của 4 từ Tiếng Anh: Strengths (thế mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức) – là mô hình (hay ma trận) phân tích kinh doanh nổi tiếng cho doanh nghiệp.

    Mô hình SWOT là mô hình (hay ma trận) phân tích kinh doanh nổi tiếng dành cho mọi doanh nghiệp muốn cải thiện tình hình kinh doanh bằng định hướng đúng đẵn và xây dựng những nền tảng phát triển vững chắc.

    Trong đó Thế mạnh và Điểm yếu được xem là hai yếu tố nội bộ trong một doanh nghiệp. Ví dụ như danh tiếng, đặc điểm, vị trí địa lý. Gọi là yếu tố nội bộ, bởi vì đây là những yếu tố mà bạn có thể nỗ lực để thay đổi.

    Còn Cơ hội và Rủi ro là hai yếu tố bên ngoài. Ví dụ như nguồn cung ứng, đối thủ, giá thị trường, vì chúng không phải những yếu tố chỉ cần muốn là có thể kiểm soát được.

    Phân tích SWOT là gì?

    Phân tích SWOT là yếu tố quan trọng để tạo chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Về cơ bản, phân tích SWOT tức là phân tích 4 yếu tố: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội), Threats (Thách thức) giúp bạn xác định mục tiêu chiến lược, hướng đi cho doanh nghiệp.

    Phân tích SWOT có thể được áp dụng cho toàn bộ doanh nghiệp hoặc tổ chức hoặc các dự án riêng lẻ mà doanh nghiệp đang hay sẽ triển khai.

    Nói tóm gọn, phân tích SWOT doanh nghiệp bao gồm những khía cạnh như sau:

    • Thế mạnh: Đặc điểm doanh nghiệp hoặc dự án đem lại lợi thế cạnh tranh so với đối thủ cạnh tranh.
    • Điểm yếu: Đặc điểm doanh nghiệp hoặc dự án khiến doanh nghiệp hoặc dự án yếu thế hơn so với đối thủ.
    • Cơ hội: Nhân tố môi trường có thể khai thác để giành được lợi thế.
    • Thách thức: Nhân tố môi trường có thể tác động tiêu cực đến doanh nghiệp hoặc dự án.

    SWOT được áp dụng trong lĩnh vực nào?

    Phân tích SWOT (hay ma trận SWOT) là kỹ thuật chiến lược được sử dụng để giúp cá nhân hay tổ chức xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong cạnh tranh thương trường cũng như trong quá trình xây dựng nội dung kế hoạch cho dự án. Doanh nghiệp có thể dùng phân tích SWOT làm rõ mục tiêu đầu tư và xác định những yếu tố khách quan – chủ quan có thể ảnh hưởng đến quá trình đạt được mục tiêu đó.

    Xác định SWOT cực kì quan trọng. Vì nó sẽ quyết định bước tiếp theo để đạt được mục tiêu là gì. Người lãnh đạo nên dựa vào ma trận SWOT xem mục tiêu có khả thi hay không. Nếu không thì họ cần thay đổi mục tiêu và làm lại quá trình đánh giá ma trận SWOT.

    • Lập kế hoạch chiến lược
    • Brainstorm ý tưởng
    • Đưa ra quyết định
    • Phát triển thế mạnh
    • Loại bỏ hoặc hạn chế điểm yếu
    • Giải quyết vấn đề cá nhân như vấn đề nhân viên, cơ cấu tổ chức, nguồn lực tài chính …

    Hướng dẫn xây dựng mô hình SWOT

    Thông thường sơ đồ SWOT được trình bày dưới dạng ma trận4 ô vuông tượng trưng cho 4 yếu tố chính. Tuy nhiên bạn cũng có thể liệt kê các ý cho từng mục dưới dạng danh sách. Cách trình bày như thế nào tùy mỗi người.

    Tôi cũng đã tổng hợp một số câu hỏi dành cho mỗi phần để bạn tham khảo khi phân tích SWOT.

    Thế mạnh

    Yếu tố đầu tiên của phân tích SWOT là Strength, tức Điểm mạnh, bao gồm các phần được liệt kê trong ảnh sau:

    Như bạn có thể đoán, yếu tố này giải quyết những điều mà doanh nghiệp đặc biệt làm tốt, chẳng hạn như môi trường làm việc tốt, hay ý tưởng bán hàng độc đáo, hay nguồn nhân lực tuyệt vời, bộ máy lãnh đạo xuất sắc,..

    Hãy thử đặt câu hỏi để mở rộng yếu tố đầu tiên: Điểm mạnh, bằng cách liệt kê những câu hỏi xoay quanh thế mạnh của doanh nghiệp như sau:

    • Khách hàng yêu thích điều gì về doanh nghiệp hay sản phẩm của bạn?
    • Doanh nghiệp bạn làm gì tốt hơn các doanh nghiệp khác trong ngành như thế nào?
    • Đặc tính thương hiệu (brand attribute) thu hút nhất của doanh nghiệp bạn là gì?
    • Những ý tưởng bán hàng độc đáo mà doanh nghiệp của bạn đang ấp ủ?
    • Hay những tài nguyên nào chỉ bạn có mà đối thủ thì không?

    Câu trả lời sẽ đem lại cái nhìn tổng thể giúp bạn xác định điểm mạnh cốt lõi của doanh nghiệp.

    Đừng quên cân nhắc lợi thế từ góc nhìn cả trong cuộc lẫn khách hàng và những bạn cùng ngành. Nếu bạn gặp khó khăn thì hãy cứ viết ra những đặc điểm của công ty và có thể bạn sẽ tìm ra điểm mạnh từ những đặc điểm đó.

    Ngoài ra bạn cũng cần nghĩ tới đối thủ.

    Chẳng hạn nếu tất cả đối thủ khác đều cung cấp sản phẩm chất lượng cao thì dù bạn có sản phẩm tốt thì đó cũng chưa hẳn là lợi thế của bạn.

    Weakness – Điểm yếu

    Quá tự tin vào điểm mạnh của mình sẽ trở thành yếu điểm cho doanh nghiệp, khi doanh nghiệp không thể nhìn ra những thiếu sót cần thay đổi.

    Tương tự, tôi cũng có danh sách vài câu hỏi giúp bạn tìm ra điểm yếu:

    • Khách hàng của bạn không thích gì về doanh nghiệp hay sản phẩm của bạn?
    • Những vấn đề hoặc khiếu nại thường được đề cập trong các review đánh giá về doanh nghiệp bạn là gì?
    • Tại sao khách hàng của bạn hủy đơn hoặc không thực hiện/không hoàn thành giao dịch?
    • Thuộc tính thương hiệu tiêu cực nhất đang vướng phải là gì?
    • Những trở ngại/thách thức lớn nhất trong kênh bán hàng hiện tại?
    • Những tài nguyên nào mà đối thủ có mà bạn thì không?

    Đối với điểm yếu, bạn cũng phải có cái nhìn tổng quan về khách quan và chủ quan: Đối thủ có đang làm tốt hơn bạn không? Những điểm yếu người khác thấy mà bạn không nhận ra? Hãy thành thật và thẳng thắn đối diện với điểm yếu của mình.

    Opportunities – Cơ hội

    Tiếp theo trong các yếu tố phân tích SWOT là Opportunities – Cơ hội. Doanh nghiệp bạn có đang sở hữu một khối lượng lớn khách hàng tiềm năng được tạo ra bởi đội ngũ marketing? Đó là một cơ hội. Doanh nghiệp bạn đang phát triển một ý tưởng mới sáng tạo sẽ mở ra “đại dương” mới? Đó là một cơ hội khác nữa.

    Doanh nghiệp có thể tận dụng những cơ hội đến từ:

    • Xu hướng trong công nghệ và thị trường
    • Thay đổi về mặt xã hội, dân số, lối sống …
    • Sự kiện địa phương
    • Xu hướng của khách hàng

    Một số câu hỏi mà tôi gợi ý bao gồm:

    • Làm thế nào để có thể cải thiện quy trình bán hàng/hỗ trợ khách hàng hiện có hay hỗ trợ khách hàng tiềm năng?
    • Những kiểu truyền thông nào sẽ thúc đẩy chuyển đổi khách hàng?
    • Phương pháp tối ưu quy trình làm việc liên phòng ban hiệu quả hơn là gì?
    • Có ngân sách, công cụ hoặc tài nguyên nào khác mà doanh nghiệp chưa tận dụng hết mức hay không?

    Mẹo nhỏ

    Giải pháp tốt nhất là nhìn vào thế mạnh và tự hỏi những thế mạnh này có thể mở ra bất cứ cơ hội nào không. Ngoài ra, xem xét những điểm yếu và tự hỏi sau khi khắc phục và hạn chế những điểm này, bạn có thể tạo ra cơ hội mới nào không?

    Nói tóm lại, yếu tố phân tích SWOT này bao gồm mọi thứ bạn có thể làm để cải thiện doanh số, hoặc thúc đẩy sứ mệnh doanh nghiệp mình.

    Threats – Rủi ro

    Yếu tố cuối cùng của phân tích SWOT là Threats – Thách thức, Rủi ro hoặc các mối đe dọa, có nhiều tên gọi dành cho Threat, nhưng chung quy là mọi thứ có thể gây rủi ro đến khả năng thành công hoặc tăng trưởng của doanh nghiệp.

    Rủi ro này có thể bao gồm những yếu tố như đối thủ cạnh tranh mới nổi, thay đổi về luật pháp, rủi ro trong xoay chuyển tài chính và hầu như mọi thứ khác có khả năng tác động tiêu cực cho tương lai của doanh nghiệp hay kế hoạch kinh doanh.

    Dù vậy, tất nhiên sẽ có nhiều Thách thức hay Rủi ro tiềm tàng mà doanh nghiệp phải đối mặt, mà không thể lường trước được, như thay đổi môi trường pháp lý, biến động thị trường, hoặc thậm chí các Rủi ro nội bộ như lương thưởng bất hợp lý gây cản trở sự phát triển của doanh nghiệp.

    Mẹo

    Khi đánh giá cơ hội và thách thức, hãy sử dụng Phân tích PEST – Phân tích toàn cảnh môi trường kinh doanh dựa trên Chính trị (P), Kinh tế (E), Xã hội (S), Công nghệ (T) – để chắc rằng bạn không bỏ qua những yếu tố bên ngoài như quy định mới của nhà nước hay thay đổi công nghệ trong ngành.

    À quên! Nếu bạn chưa biết Phân tích PEST là gì?

    Phân tích PEST là gì?

    Phân tích PEST – Phân tích toàn cảnh môi trường kinh doanh dựa trên Chính trị (P), Kinh tế (E), Xã hội (S), Công nghệ (T).

    Mở rộng mô hình SWOT thành ma trận

    Mô hình SWOT có thể được mở rộng bằng cách đặt những câu hỏi phù hợp.

    Đây là kỹ thuật nâng cao nhằm thiết lập cơ sở nền tảng để loại bỏ những yếu tố trở ngại và kích thích những điểm có lợi.

    • SO (maxi-maxi) nhằm tận dụng tối đa lợi thế để tạo ra cơ hội.
    • WO (mini-maxi) muốn khắc phục điểm yếu để phát huy thế mạnh.
    • ST (maxi-mini) sử dụng thế mạnh để loại bỏ nguy cơ.
    • WT (mini-mini) giải quyết mọi giả định tiêu cực và tập trung giảm thiểu nhằm hạn chế những rủi ro và ảnh hưởng tiêu cực.

    Cách phân tích và lập chiến lược SWOT chi tiết

    Để minh họa cách thức triển khai, tôi sẽ ví dụ phân tích SWOT dành cho một quán cà phê tạm tên là The Cafe Home. Đây là Bảng SWOT tôi làm cho quán cà phê này.

    Dựa vào bảng SWOT trên, chúng ta có thể bắt đầu thực hiện phân tích SWOT và đưa ra các chiến lược phát triển doanh nghiệp ngay sau đây.

    Thiết lập Ma trận SWOT

    Trình bày phân tích SWOT dưới dạng ma trận giúp bạn dễ dàng lập chiến lược theo từng yếu tố. Trước hết, tôi sẽ chuyển bảng yếu tố SWOT ở trên thành ma trận trước.

    Như bạn có thể thấy, trình bày theo kiểu ma trận này cho phép chúng ta dễ dàng xác định 4 yếu tố phân tích khác nhau.

    Vậy, sau các công đoạn liệt kê và ‘xếp hình’ như trên, đây là lúc để bạn thiết lập chiến lược cho doanh nghiệp dựa trên các yếu tố SWOT, đảm bảo:

    • Phát triển điểm mạnh
    • Cải thiện điểm yếu
    • Tận dụng cơ hội
    • Hạn chế rủi ro

    Mà lý tưởng nhất theo tôi nghiên cứu, thì chiến lược có thể kết hợp ưu điểm với nhược điểm, và chuyển yếu thành mạnh là kiểu chiến lược lý tưởng nhất!

    Phát triển Điểm mạnh

    Đối với The Cafe Home (tưởng tượng) của tôi, thế mạnh mà tôi có bao gồm:

    1. Vị trí kinh doanh tốt
    2. Cơ sở vật chất tốt
    3. Thương hiệu doanh nghiệp tốt
    4. Thực đơn đa dạng, đặc sắc theo mùa
    5. Giá cả được khách hàng đánh giá tương xứng chất lượng

    Kết hợp với các cơ hội:

    1. Nhu cầu khách hàng ngày càng tăng
    2. Thực đơn mới mẻ, sáng tạo được yêu thích
    3. Tiềm năng phát triển qua ứng dụng giao hàng

    Kết hợp như thế nào, bạn cần nghiên cứu các chiến lược kinh doanh phù hợp với Ưu điểm hiện tại. Hãy đánh giá xem, bạn có những ưu điểm nào và cơ hội nào có thể giúp đẩy mạnh ưu điểm đấy.

    Chiến lược này có thể đồng thời giải quyết được W3 – diện tích các chi nhánh còn nhỏ chật. Bên cạnh đó, việc mở thêm chi nhánh còn củng cố thêm thế mạnh thương hiệu. Để đảm bảo thu hút được khách hàng cho chi nhánh mới, cần các chương trình khai trương/ưu đãi phù hợp.

    Tương tự, chúng ta có Chiến lược Phát triển sản phẩm dựa vào S(4,5) và O(1,2) để sáng tạo menu thức uống signature hấp dẫn.

    Đối lập với ưu điểm, doanh nghiệp còn cần những chiến lược giúp hạn chế hay loại bỏ yếu điểm không thể bỏ qua.

    Chuyển hóa Rủi ro

    Đối với lựa chọn phát triển điểm mạnh, hạn chế nguy cơ S-T, tôi có chiến lược như sau cho The Cafe Home.

    Về cơ bản, phát huy thế mạnh là chiến lược tôn chỉ với mọi doanh nghiệp. Nhưng cách phát huy vừa tận dụng được cơ hội để “boost up” thế mạnh và cắt giảm rủi ro càng nhiều càng tốt mới là chuyện khó.

    Không phải rủi ro nào cũng có thể lường trước được. Ví dụ như Đại dịch Covid vừa qua, đó là một rủi ro rất lớn mà không doanh nghiệp nào có thể biết trước để phòng tránh. Nhưng cải thiện các rủi ro gốc rễ, xây nền móng vững mạnh sẽ giúp doanh nghiệp bạn có thể đứng vững trước những biến động lớn tương tự đại dịch vừa rồi.

    Tận dụng Cơ hội

    Việc cải thiện doanh nghiệp dựa trên những điểm yếu được xác định trong phân tích SWOT sẽ phức tạp hơn một chút, là vì bạn cần phải thành thật với chính mình về những điểm yếu mà doanh nghiệp đang mắc phải ngay từ đầu, thời điểm liệt kê các yếu tố SWOT.

    Tôi sẽ không đi quá chi tiết vào cách kết hợp chiến lược nữa, thay vào đó là đưa bạn các bảng chiến lược tôi đề xuất cho The Cafe Home giúp bạn dễ hình dung hơn. Tuyệt đối đừng dựa hoàn toàn vào những chiến lược tôi đề ra trong ví dụ này, vì tôi chỉ đang làm một ví dụ nhanh mà thôi. Và kiến thức về chiến lược kinh doanh sẽ cần bạn phải tự tìm tòi nghiên cứu nhiều.

    Chiến lược W-O: Chiến lược Thâm nhập thị trường: lựa chọn ứng dụng giao hàng để mở rộng đối tượng khách hàng tiềm năng đặt món trực tuyến đồng thời phát triển thương hiệu nhờ vào kết hợp với ứng dụng uy tín được yêu thích, tiết kiệm chi phí marketing, giải quyết vấn đề diện tích quán nhỏ mà không cần mở thêm chi nhánh mới gấp.

    Bên cạnh đó, không thể bỏ qua sự kết hợp đặc sắc nhất, làm tiền đề nghiên cứu chiến lược loại bỏ yếu điểm hiệu quả: W-T.

    Loại bỏ các Mối đe dọa

    Tại sao cùng là Threat nhưng ở trên tôi gọi là Rủi ro, còn bây giờ lại là Mối đe dọa? Vì rủi ro đi cùng Thế mạnh thì chỉ là Rủi ro, nhưng kết hợp cùng Yếu điểm sẽ là Mối đe dọa thực sự cho một doanh nghiệp, mức độ ảnh hưởng hoàn toàn khác biệt.

    Dự đoán và giảm thiểu càng nhiều càng tốt sự ảnh hưởng của các Mối đe dọa trong phân tích SWOT có thể là thử thách khó khăn nhất mà bạn phải đối mặt, chủ yếu vì các Mối đe dọa thường là các yếu tố bên ngoài; có rất nhiều bạn có thể làm để giảm thiểu thiệt hại tiềm tàng của các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp.

    Thế nhưng việc đối phó và theo dõi các Mối đe dọa phải là một trong những ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp, bất kể khả năng kiểm soát của bạn đối với các Mối đe dọa ra sao.

    Như tôi đã nói ở W-O, bạn sẽ không thể giải quyết triệt để vấn đề nếu bạn né tránh chúng. Vì vậy, hãy thành thật. Dù danh sách Yếu điểm và Rủi ro có dài gấp mấy lần những lợi thế doanh nghiệp đang có, hãy cứ thành thật liệt kê ra hết.

    Mỗi điểm yếu, mỗi mối đe dọa khác nhau sẽ cần chiến lược xử lý khác nhau.

    Trong ví dụ trên, cả 4 Mối đe dọa đều đặc biệt thách thức:

    • Tỷ lệ cạnh tranh tăng cao
    • Đối thủ lớn mạnh nhiều
    • Xu hướng trong ngành thay đổi liên tục
    • Chi phí nguyên vật liệu không ổn định

    Trong một vài phân tích SWOT, giữa các Yếu điểm và Mối đe dọa sẽ có giao điểm.

    Ví dụ như với The Cafe Home, S1: chi phí cao so với đối thủ và T4: chi phí nguyên vật liệu không ổn định cho ta thấy giao điểm chi phí cần được quan tâm nhiều.

    Khi tổng hợp kết quả phân tích SWOT, hãy tập trung tìm kiếm các điểm giao như trên và xem xét liệu bạn có thể xử lí Yếu điểm lẫn Mối đe dọa cùng lúc không.

    Sau cùng, bạn sẽ có bảng tổng hợp các chiến lược SWOT dành riêng cho doanh nghiệp mình:

    Vậy làm cách nào để lựa chọn chiến lược nên triển khai?

    Bạn có thể thử áp dụng Ma trận Eisenhower. Về cơ bản, ma trận Eisenhower được xây dựng dựa trên 2 câu hỏi:

    • Việc này có quan trọng không?
    • Việc này có gấp không?

    Từ đó đưa ra đánh cho cho công việc cần triển khai, gồm 4 loại theo thứ tự ưu tiên như sau:

    1. Quan trọng và khẩn cấp
    2. Quan trọng nhưng không khẩn cấp
    3. Không quan trọng nhưng khẩn cấp
    4. Không quan trọng và cũng không khẩn cấp.

    Ma trận này được sáng tạo bởi tổng thống thứ 34 của nước Mỹ, ngài Eisenhower, được ứng dụng rất rộng rãi trong quản lý thời gian, quản lý công việc cực hiệu quả.

    Áp dụng phương thức Eisenhower, bạn sẽ lựa chọn được chiến lược ưu tiên triển khai trước. Hơn nữa, các chiến lược có giao điểm với nhau có thể kết hợp cùng triển khai để tối ưu thời gian và nguồn nhân lực.

    Nguồn gốc hình thành ma trận SWOT

    Qua nhiều năm, phương pháp phân tích ma trận SWOT đã được đón nhận và biết đến rộng rãi. Nhiều người cho rằng khái niệm này được hình thành bởi cố vấn quản lý người Mỹ Albert Humphrey.

    Trong khi đang làm dự án nghiên cứu tại Đại học Stanford, khoảng thời gian 1960-1970, Albert Humphrey đã phát triển công cụ phân tích để đánh giá kế hoạch chiến lược. Đồng thời công cụ này còn nhận thấy lý do tại sao kế hoạch của các doanh nghiệp lại gặp thất bại. Ông đặt tên cho kỹ thuật phân tích dữ liệu này là SOFT – 4 chữ cái đầu tiên của:

    • S = Satisfactory, điểm hài lòng ở thời điểm hiện tại
    • O = Opportunities, cơ hội có thể khai thác trong tương lai
    • F = Faults, sai lầm ở thời điểm hiện tại
    • T = Threats, thách thức có thể gặp phải trong tương lai

    Ai nên thực hiện phân tích SWOT?

    Tầng lớp lãnh đạo và đứng đầu công ty nên chủ động dùng mô hình phân tích SWOT. GTV – Một agency SEO cũng thường xuyên áp dụng mô hình SWOT theo định kỳ hàng quý/ năm để hiểu rõ doanh nghiệp và xây dựng chiến lược phát triển phù hợp.

    Tuy nhiên quá trình phân tích mô hình SWOT không thể tiến hành một mình.

    Để đạt được kết quả khách quan và toàn diện nhất, SWOT nên được triển khai bởi một nhóm người với nhiều góc nhìn và quan điểm khác nhau.

    Quản lý, sales, dịch vụ chăm sóc khách hàng và thậm chí là bản thân khách hàng cũng có thể đóng góp vào quá trình này. SWOT giúp gắn kết đội nhóm và khuyến khích đội ngũ nhân viên tham gia lập kế hoạch, xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty.

    Nếu bạn đang tự điều hành doanh nghiệp cũng đừng nên quá lo lắng. Bạn vẫn có thể tham khảo ý kiến từ bạn bè, những người biết về doanh nghiệp của bạn, kế toán hay thậm chí là nhà cung cấp. Quan trọng là có thể tập hợp nhiều góc nhìn khác nhau.

    Doanh nghiệp có thể dùng SWOT để làm cơ sở đánh giá tình hình hiện tại và xác định chiến lược sắp tới một cách hiệu quả và phù hợp hơn. Nhưng mọi chuyện luôn thay đổi. Bạn cần liên tục đánh giá lại chiến thuật và triển khai ma trận SWOT mới 6-12 tháng một lần.

    Đối với startup, việc phân tích SWOT là một phần trong quy trình xây dựng kế hoạch doanh nghiệp, từ đó giúp hệ thống hóa chiến lược để có khởi đầu tốt và nắm rõ định hướng trong tương lai.

    Ví dụ SWOT của Starbucks & Nike

    Starbuck

    Thế mạnh

    • Starbuck là tập đoàn sinh lời lên đến $600 triệu vào năm 2004
    • Là thương hiệu cà phê toàn cầu nổi tiếng với chất lượng sản phẩm và dịch vụ
    • Lọt top 100 nơi đáng làm việc nhất, tôn trọng nhân viên
    • Doanh nghiệp mang tôn chỉ và sứ mệnh giàu tính đạo đức
    • Hiểu được thị hiếu và xu hướng của khách hàng

    Điểm yếu

    • Nổi tiếng mát tay trong phát triển sản phẩm mới và tính sáng tạo. Tuy nhiên khả năng cải tiến của họ sẽ có lúc thất bại rất dễ xảy ra.
    • Có mặt khắp nước Mỹ nhưng cần đầu tư ở các quốc gia khác để phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
    • Chủ yếu dựa trên lợi thế cạnh tranh là bán lẻ cà phê nên chậm lấn sang các lĩnh vực khác để tăng trưởng.

    Cơ hội

    • Starbuck rất giỏi nắm bắt các cơ hội
    • Năm 2004, công ty hợp tác với tập đoàn công nghệ thông tin Hewlett Packard mở dịch vụ CD-burning tại cửa hàng Santa Monica (California Mỹ) để khách hàng có thể tự tay tạo CD âm nhạc của riêng họ
    • Sản phẩm và dịch vụ mới có thể được bán lẻ tại các cửa hàng cà phê chẳng hạn sản phẩm theo tiêu chuẩn Fair Trade
    • Có cơ hội mở rộng thị trường ra quốc tế, tại các thị trường cà phê mới như Ấn Độ và vành đai Thái Bình Dương
    • Có tiềm năng đồng thương hiệu với các nhà sản xuất thực phẩm và đồ uống khác, cũng như nhượng thương hiệu cho các nhà kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.

    Thách thức

    • Liệu thị trường cà phê tiếp tục lên ngôi hay sẽ bị thay thế bởi thói quen uống thức uống khác trong tương lai?
    • Nguy cơ tăng giá cà phê và sản phẩm từ sữa
    • Kể từ khi ra mắt tại Chợ Pike Place, Seattle năm 1971, thành công của Starbuck đã tạo ra phong cách mới cho nhiều đối thủ và bị nhiều sao chép, dẫn đến nhiều nguy cơ tiềm tàng.
    • Thách thức từ đối thủ cạnh tranh

    Nike

    Sức mạnh

    • Nike là công ty có sức cạnh tranh mạnh trong thị trường
    • Và Nike không có xưởng sản xuất nên không có gánh nặng về địa điểm và nhân công. Nike hướng đến lean organization – doanh nghiệp tạo ra nhiều giá trị cho khách hàng với nguồn tài nguyên ít nhất)
    • Mạnh về nghiên cứu và phát triển nắm bắt xu hướng của khách hàng
    • Là thương hiệu quốc tế

    Điểm yếu

    • Điểm yếu kém của Nike là sản phẩm thể thao chưa phong phú. Phần lớn thu nhập dựa trên thị phần mặt hàng giàu nên dễ bị lung lay nếu thị phần này giảm.
    • Lĩnh vực bán lẻ rất nhạy cảm với giá cả. Nike có các cửa hàng bán lẻ riêng với tên Niketown. Tuy nhiên, phần lớn doanh thu và lợi nhuận lại đến từ bán cho các nhà bán lẻ khác.

    Cơ hội

    • Phát triển sản phẩm mang lại cho Nike nhiều cơ hội. Chủ thương hiệu tin rằng Nike không phải là một thương hiệu thời trang. Nhưng dù muốn hay không thì người mua Nike không hẳn mang giày này chơi thể thao. Mà xem đó như phong cách thời thượng. Điều đó tạo ra cơ hội vì sản phẩm dù chưa hư vẫn bị lỗi thời. Nên khách hàng sẽ mua tiếp sản phẩm mới.
    • Có thể phát triển sản phẩm theo hướng thời trang thể thao, kính mát và trang sức. Càng có nhiều phụ kiện giá trị cao bán kèm với giày càng thu về nhiều lợi nhuận.
    • Doanh nghiệp cũng có thể phát triển ra quốc tế, dựa trên sự nhận diện thương hiệu toàn cầu. Nhiều thị trường có thu nhập cao chi trả cho sản phẩm thể thao đắt tiền như Trung Quốc hay Ấn Độ ngày càng có nhiều thế hệ người trẻ chịu chi tiền.

    Thách thức

    • Nike cũng bị ảnh hưởng bởi bản chất của thị trường quốc tế. Giá mua bán chênh lệch theo nhiều đơn vị tiền tệ khác nhau nên chi phí và lợi nhuận không ổn định theo thời gian. Tình trạng này có thể khiến Nike sản xuất hoặc bán lỗ. Đây là vấn đề chung của các thương hiệu quốc tế.
    • Thị trường quần áo, giày dép cực kỳ cạnh tranh.
    • Như đã đề cập ở trên, lĩnh vực bán lẻ cực kì nhạy cảm về giá. Nên khách hàng có thể lựa chọn nhà cung cấp giá rẻ hơn.
    • Những đối thủ cạnh tranh luôn là điều mà công ty luôn chú ý đến.

    Kết luận

    Có thể việc nghiên cứu các chiến lược kinh doanh sẽ hơi tốn thời gian và công sức, nhưng tin tôi đi, mọi việc đều có cái giá của nó, có lượng kiến thức đầy đủ thì không bao giờ là thừa.

    Hy vọng qua bài viết này, bạn đã hiểu rõ hơn về phân tích SWOT là gì (hay swot analysis là gì) và cách thực hiện mô hình SWOT đúng chuẩn.

    1. How to Do a SWOT Analysis for Your Small Business (with Examples) – WordStream
    2. How to Do a SWOT Analysis for Better Strategic Planning – Bplans
    3. Section 14. SWOT Analysis: Strengths, Weaknesses, Opportunities, and Threats – Community Tool Box

    Đọc tiếp:

    Website bạn có ở trên trang 1 chứ? Hay là đối thủ của bạn?

    Đừng nhượng bộ, hãy đánh bại đối thủ của bạn trên Google cùng Công ty TOP #1 tại Việt Nam bên cạnh đó là dịch vụ SEO HCM với bảng giá dịch vụ SEO phù hợp nhất cho từng doanh nghiệp!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ma Trận Swot Là Gì? Chi Tiết Cách Phân Tích Ma Trận Swot
  • Bài Tập Phân Tích Swot: Định Hướng Cho Người Mới Bắt Đầu!
  • Cong Ty Cong Nghe Tin Hoc Nha Truong
  • Một Số Phương Pháp Tính Lũy Thừa Của Ma Trận Vuông
  • Lý Thuyết Và Hướng Dẫn Giải Bài Tập Ma Trận Và Định Thức
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100