【#1】Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình

Giải VBT Ngữ văn 9 bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình

Câu 1 (trang 9 VBT Ngữ văn 9, tập 1)

Hãy nêu luận điểm và hệ thống luận cứ của văn bản

– Luận điểm: nguy cơ khủng khiếp của chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn thế giới. Chính vì vậy, đấu tranh chống lại và xóa bỏ nguy cơ này vì một thế giới hòa bình là nhiệm vụ cấp bách của toàn thể nhân loại.

– Hệ thống luận cứ:

+ Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả năng hủy diệt cả trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.

+ Chạy đua vũ trang, nhất là vũ trang hạt nhân, là vô cùng tốn kém và hết sức phi lí.

+ Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lí trí loài người mà còn ngược lại lí trí của tự nhiên.

+ Bởi vậy, tất cả nhân loại phải có nhiệm vụ ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, đấu tranh vì một thế giới hòa bình.

Câu 2 (trang 10 VBT Ngữ văn 9, tập 1)

Trong đoạn đầu văn bản, nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa loài người và toàn bộ sự sống trên trái đất đã được tác giả chỉ ra rất cụ thể bằng cách lập luận như thế nào?

– Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe doạ loài người và toàn bộ sự sống trên Trái Đất đã được tác giả chỉ ra rất cụ thể bằng lập luận:

– Tác giả đã sử dụng phương pháp nêu số liệu, giải thích dựa trên những tính toán lí thuyết khoa học, chính xác, cụ thể hoá để trình bày về nguy cơ của vũ khí hạt nhân.

Câu 3 (trang 10 VBT Ngữ văn 9, tập 1)

Sự tốn kém và tính chất vô lí của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân đã được tác giả chỉ ra bằng những chứng cứ nào?

– Sự tốn kém:

+ Dẫn chứng về chương trình không thực hiện được của UNICEF vì thiếu kinh phí;

+ Dẫn chứng về y tế;

+ Dẫn chứng về tiếp tế thực phẩm;

+ Dẫn chứng về giáo dục.

– Điều quan trọng là: trong mỗi dẫn chứng, tác giả đã đưa ra sự so sánh cụ thể để làm nổi bật tính phi lí của chạy đua vũ trang. Những số liệu cụ thể tự nó có sức thuyết phục mạnh mẽ.

Câu 4 (trang 11 VBT Ngữ văn 9, tập 1)

Vì sao có thể nói: “Chiến tranh hạt nhân “không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa?” Em có suy nghĩ gì trước cảnh báo của nhà văn Mác-két về nguy cơ hủy diệt sự sống và nền văn minh trên trái đất một khi chiến tranh hạt nhân nổ ra?

– Chiến tranh hạt nhân “không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa” vì:

+ Chiến tranh hạt nhân xảy ra sẽ phá huỷ, xoá sạch những thành quả tiến hoá của văn minh loài người cũng như tiến trình tiến hoá của sự sống, tự nhiên trên Trái Đất.

+ Lời cảnh báo của nhà văn G.Macket đã đặt ra trước toàn thể nhân loại một nhiệm vụ cấp bách. Đó là chúng ta phải đoàn kết, kiên quyết ngăn chặn nguy cơ chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

– Suy nghĩ của em: nhà văn đã có cái nhìn sâu rộng và đầy nhân đạo khi đưa ra những lập luận cảnh báo nguy cơ hủy diệt. Lời cảnh báo của nhà văn G.Macket đã đặt ra trước toàn thể nhân loại một nhiệm vụ cấp bách. Đó là chúng ta phải đoàn kết, kiên quyết ngăn chặn nguy cơ chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

Câu 5 (trang 11 VBT Ngữ văn 9, tập 1)

Theo em, vì sao văn bản này lại được đặt tên Đấu tranh cho một thế giới hòa bình?

– Văn bản được đặt tên là Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, vì chủ đích của người viết muốn nhấn mạnh vào nhiệm vụ đấu tranh để ngăn chặn nguy cơ ấy.

– Nhan đề ấy thể hiện luận điểm cơ bản của bài văn, đồng thời như một khẩu hiệu, kêu gọi, hướng nhân loại tới một thái độ đấu tranh tích cực.

Trả lời câu hỏi (trang 11 VBT Ngữ văn 9, tập 1)

Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc văn bản Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của nhà văn G.G Mác-két.

“Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” mang ý nghĩa như một bức thông điệp của Mác-két. người Cô-lôm-bi-a, nhà hoạt động xã hội lỗi lạc, nhà văn được giải thưởng Nô-ben văn học năm 1982, gửi cho các dân tộc trên hành tinh chúng ta. Và tác phẩm đã để lại cho chúng ta nhiều điều suy ngẫm.

Để làm sáng tỏ luận đề “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”, Mác-két đã đưa ra 3 luận điểm đầy sức thuyết phục: một là nhân loại đang đứng trước hiểm họa hạt nhân; hai là, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là cực kì tốn kém; ba là, lời kêu gọi chống nguy cơ hạt nhân, đấu tranh cho hòa bình.

Nhân loại đang đứng trước hiểm họa hạt nhân; cái nguy cơ ghê gớm đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm Đa-nô-clét”. Với hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân bố trí khắp hành tinh, mỗi con người đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ. Với số vũ khí hạt nhân ấy có thế hủy diệt 12 lần mọi dấu vết sự sống trên trái đất; có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt trời, cộng thêm 4 hành tinh nữa.. “Mác-két ghê tởm lên án nguy cơ hạt nhân là dịch hạch hạt nhân” vì cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ phóng cái chết”… Những con số mà Mác-két đưa ra đã nâng cao nhận thức cho mọi người vẻ nguy cơ chiến tranh hạt nhân, và sự hủy diệt khủng khiếp của vũ khí hạt nhân.

Tiếp theo, Mác-két đã chỉ ra cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là vô cùng tốn kém. Đây là những số liệu cụ thể mà tác giả đã đưa ra: Chi phí bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B1B của Mĩ và cho dưới 7.000 tên lửa vượt đại châu là 100 tỉ đô-la. Số tiền ấy có thể cứu trợ về y tế, giáo dục sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp tế thực phẩm, nước uống cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế giới. Giá 10 chiếc tàu sân bay Ni-mít mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong 14 năm cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em ở châu Phi. Số lượng ca-lo trung bình cho 575 triệu người thiếu dinh dưỡng tốn kém không bằng 149 tên lửa MX. Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền mua nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có được thực phẩm trong 4 năm tới.

Nghệ thuật lập luận của Mác-két rất sắc bén. Những con số về tiền bạc mà ông nêu lên đã cho thấy ngân sách quân sự, chi phí chạy đua vũ trang hạt nhân là cực kì tốn kém! Tác giả sử dụng lối biện luận tương phản về thời gian: quá trình hình thành sự sống và văn minh nhân loại phải trải qua hàng triệu triệu năm, còn sự hủy diệt Trái Đất chỉ diễn ra trong nháy mắt, “chỉ cần bấm nút một cái” thì tất cả sẽ trở thành tro bụi – ông đã chi cho mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia thấy rõ hiếm họa vũ khí hạt nhân, chạy đua vũ trang hạt nhân khủng khiếp như thế nào!

Luận điểm thứ 3 là lời kêu gọi của Mác-két. Ông kêu gọi mọi người “chống lại việc đó” – cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân; hãy “tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hòi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng”. Ông đề nghị “mở ra một nhà băng lưu trữ trí nhớ, có thể tồn tại được sau tai họa hạt nhân” để cho nhân loại tương lai biết rằng “sự sống đã từng tồn tại”…, để nhân loại tương lai “biết đến” những thủ phạm đã “gây ra những lo sợ, đau khổ” cho hàng tỉ con người, để “biết đến” tên những kẻ “giả điếc làm ngơ trước những lời khẩn cầu hòa bình, những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn”…

Mác-két đã có một cách nói đặc sắc, độc đáo lên án những kẻ hiếu chiến đã và đang gây ra cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, đe dọa cuộc sống hòa bình yên vui của các dân tộc và nhân loại.

Có thể nói, văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” đã thể hiện trí tuệ và tâm hồn của Mác-két. Ông đã sáng suốt và tỉnh táo chỉ cho nhân loại thấy rõ nguy cơ hạt nhân là một hiểm họa đáng sợ – “dịch hạch hạt nhân”. Tâm hồn của ông cháy bỏng một niềm khao khát hòa bình cho nhân loại. Và qua đó, ta càng thêm kinh sợ chiến tranh hạt nhân tàn bạo đã phá hủy bao điều tốt đẹp của cuộc đời, cũng từ đó ta càng thêm yêu hòa bình, và nâng cao cho mình ý thức bảo vệ vmột thế giới không có vũ khí hạt nhân.

Mác-két đã có một lối nói, lối viết rất độc đáo. Những số liệu của ông nêu ra có một sức thuyết phục to lớn, làm cho mọi người, mọi dân tộc nhận thức một cách sâu sắc về sự nghiệp đấu tranh bảo vệ hòa bình là sự sống còn của nhân loại.

【#2】Vbt Lịch Sử 8 Bài 1: Những Cuộc Cách Mạng Tư Sản Đầu Tiên

VBT Lịch Sử 8 Bài 1: Những cuộc cách mạng tư sản đầu tiên

Bài 1 trang 3 VBT Lịch sử 8: Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng.

Bắt đầu từ thế kỉ XVI, ở Tây Âu đã xuất hiện một nền sản xuất mới – nền sản xuất TBCN. Vậy, nền sản xuất mới đó đã ra đời trong hoàn cảnh nào?

a. Trong lòng xã hội phong kiến đã suy yếu.

b. Không bị chế độ phong kiến kìm hãm.

c. Mặc dù bị kìm hãm nhưng vẫn phát triển.

Trả lời:

(a) Trong lòng xã hội phong kiến đã suy yếu.

Bài 2 trang 3 VBT Lịch sử 8: Khoanh tròn trước ý trả lời đúng.

a. Các công trường thủ công ra đời với nhiều xưởng thủ thuê mướn nhân công.

b. Nhiều thành thị trở thành trung tâm sản xuất và buôn bán.

c. Các ngân hàng được thành lập và ngày càng có vai trò to lớn.

Trả lời:

(a) Các công trường thủ công ra đời với nhiều xưởng thuê mướn nhân công.

Bài 3 trang 4 VBT Lịch sử 8: Khoanh tròn trước ý trả lời đúng.

Trước cách mạng Hà Lan (thế kỉ XVI), nhân dân Nê-đéc-lan chịu sự thống trị của nước nào?

a. Vương quốc Anh

b. Vương quốc Tây Ban Nha.

c. Bồ Đào Nha

d. Pháp

Trả lời:

(b) Vương quốc Tây Ban Nha.

Trả lời:

– Vào đầu thế kỉ XVI, vùng đất Nê-đéc-lan có nền sản xuất TBCN phát triển nhất châu Âu, song sự thống trị của thực dân phong kiến Tây Ban Nha đã kìm hãm sự phát triển này.

– Tháng 8/1566, Nhân dân Nê-đéc-lan nổi dậy chống lại ách cai trị của thực dân phong kiến Tây Ban Nha.

– Năm 1581, bảy tỉnh miền Bắc Nê-đéc-lan thành lập nước Cộng hòa với tên gọi chính thức là “Các tỉnh liên hiệp” (sau này gọi là “Hà Lan”).

– Năm 1648, nền độc lập của Hà Lan chính thức được công nhận.

Bài 5 trang 4 VBT Lịch sử 8: Vì sao cách mạng Hà Lan lại được coi là sự kiện mở đầu thời kì lịch sử thế giới cận đại? Hãy khoanh tròn vào chữ cái đầu câu mà em cho là đúng.

a. cách mạng tư sản Hà Lan nổ ra đầu tiên (tháng 8/1566).

b. Lật đổ ách thống trị của vương quốc Tây Ban Nha.

c. cách mạng Hà lan mở đầu thời đại mới – thời đại chủ nghĩa tư bản chiến thắng chế độ phong kiến.

d. năm 1581, các tỉnh miền Bắc Nê-đéc-lan thành lập nước cộng hòa.

Trả lời:

(c) Cách mạng Hà lan mở đầu thời đại mới – thời đại chủ nghĩa tư bản chiến thắng chế độ phong kiến.

Trả lời:

Niều trung tâm lớn về kinh tế, thương mại, tài chính của nước Anh xuất hiện, tiêu biểu là ở Luân Đôn.

Tầng lớp “quý tộc mới” là những quý tộc phong kiến đã tư sản hóa, khinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, như: thuê công nhân nông nghiệp, mở công xưởng…

Đến giữa thế kỉ XVII, mâu thuẫn xã hội nước Anh diễn ra hết sức gay gắt.

Sau khi Cô-lôm-bô tìm ra châu Mĩ (năm 1492), thực dân châu Âu đã xâm lược và biến châu lục mới này thành thuộc địa của mình.

Trong các thế kỉ XVII – XVIII, thực dân Anh đã lần lượt thành lập 13 thuộc địa của mình ở Bắc Mĩ.

Thực dân Anh luôn tìm mọi cách ngăn cản, không cho công thương nghiệp ở các thuộc địa Bắc Mĩ phát triển (đánh thuế nặng, giữ độc quyền buôn bán….)

Nước Cộng hòa Bắc Mĩ ra đời.

Chiến tranh kết thúc và Hợp chúng quốc Mĩ ra đời.

Theo hiến pháp 1787, quyền dân chủ của mọi người dân đều được đảm bảo, trong đó có cả phụ nữ.

Bài 14 trang 7 VBT Lịch sử 8: Có thể coi cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ là cuộc chiến tranh chính nghĩa được không? Hãy trình bày ý kiến của em.

Trả lời:

Cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ là một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Bởi lẽ:

– Đây là cuộc chiến tranh nhằm giải quyết mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân thuộc địa Bắc Mĩ với thực dân Anh, đem lại quyền lợi chính đáng cho toàn dân tộc Bắc Mĩ (giành quyền độc lập, tự chủ…)

– Cuộc đấu tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ cũng đồng thời là cuộc đấu tranh cho “Nhân quyền”, trong đó nhấn mạnh đến các quyền cơ bản, thiêng liêng và bất khả xâm phạm là: tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc.

Bài 15 trang 8 VBT Lịch sử 8: Em hãy nối ô bên trái với ô bên phải sao cho phù hợp?

Trả lời:

Bài 16 trang 8 VBT Lịch sử 8: Vì sao nói chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ đồng thời là cuộc cách mạng tư sản?

Trả lời:

– Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ mang tính chất của một cuộc cách mạng tư sản vì: cuộc chiến tranh không chỉ giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà còn giải quyết những nhiệm vụ kinh tế – xã hội của 1 cuộc cách mạng dân chủ tư sản, như: thủ tiêu nền thống trị của quý tộc địa chủ Anh, mở đường cho sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

– Tuy nhiên, chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ là một cuộc cách mạng tư sản không triệt để, vì: không thủ tiêu thế lực của tầng lớp chủ nô, nhân dân lao động không được hưởng thành quả của cách mạng.

Trả lời:

– Cách mạng tư sản là một sự kiện lịch sử diễn ra nhằm xóa bỏ các rào cản kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.

– Chế độ quân chủ Lập hiến là thể chế chính trị của một nước, trong đó: ngôi vua vẫn được duy trì song quyền lực của vua bị hạn chế bằng hiến pháp do Quốc hội (tư sản) định ra.

– Tầng lớp “Quý tộc mới” là bộ phận quý tộc sản xuất và kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, như: thuê nhân công nông nghiệp, mở công xưởng….

【#3】Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 1: Bài Mở Đầu

Bài 1: Bài mở đầu

I – Bài tập nhận thức kiến thức mới

Bài tập 1 (trang 4 VBT Sinh học 8): Trong chương trình Sinh học 7, em đã học các ngành động vật nào?

Trả lời:

Trong chương trình Sinh học 7, em đã học các ngành động vật:

– Ngành động vật Nguyên Sinh.

– Ngành Ruột khoang.

– Ngành Giun dẹp.

– Ngành Giun tròn.

– Ngành Giun đốt.

– Ngành Thân mềm.

– Ngành Chân khớp.

– Ngành động vật có xương sống.

Bài tập 2 (trang 4 VBT Sinh học 8): Lớp động vật có xương sống nào có vị trí tiến hóa cao nhất?

Trả lời:

Ngành động vật có xương sống thì lớp Thú có vị trí tiến hóa cao nhất.

Bài tập 3 (trang 4 VBT Sinh học 8): Đánh dấu × vào ô chỉ câu trả lời đúng nhất trong các câu sau.

Trả lời:

Bài tập 4 (trang 4 VBT Sinh học 8): Kiến thức về cơ thể người và vệ sinh có quan hệ mật thiết với những ngành nghề nào trong xã hội?

Trả lời:

Kiến thức về cơ thể người và vệ sinh có quan hệ mật thiết đến nhiều lĩnh vực trong xã hội như: y tế, giáo dục, thể dục – thể thao, thực phẩm…

II – Bài tập tóm tắt và ghi nhớ kiến thức cơ bản

Bài tập (trang 5 VBT Sinh học 8): Tìm các từ và cụm từ thích hợp điền vào chỗ trống để hoàn thiện các câu sau:

1.Người là động vật bậc cao thuộc lớp Thú.

2.Đặc điểm cơ bản để phân biệt người với động vật là người biết chế tạosử dụng công cụ lao động vào những mục đích nhất định, có tư duy, tiếng nói, chữ viết.

3.Sinh học 8 cung cấp những kiến thức về đặc điểm cấu tạo, chức năng của cơ thể người trong mối quan hệ với môi trường, những hiểu biết về phòng chống bệnh tật và rèn luyện thân thể.

5.Phương pháp học tập phù hợp với đặc điểm môn học là kết hợp quan sát, thí nghiệm và vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tế cuộc sống.

Trả lời:

III – Bài tập củng cố, hoàn thiện kiến thức

Bài tập 1 (trang 5 VBT Sinh học 8): Những đặc điểm giống và khác nhau giữa người và động vật thuộc lớp Thú.

Trả lời:

– Giống nhau: Có lông mao, đẻ con, có tuyến sữa và nuôi con bằng sữa.

– Khác nhau: Người biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động vào những mục đích nhất định, có tư duy, tiếng nói, chữ viết.

Bài tập 2 (trang 5 VBT Sinh học 8): Hãy cho biết những lợi ích của việc học tập môn học “Cơ thể người và vệ sinh”.

Trả lời:

Môn học giúp ta tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ thể (từ cấp độ tế bào đến cơ quan, hệ cơ quan và cơ thể) trong mối quan hệ với môi trường và những cơ chế điều hòa các quá trình sống. Từ đó, đề ra các biện pháp rèn luyện thân thể, bảo vệ sức khỏe, giúp ta có hiểu biết khoa học để có ý thức và hành vi bảo vệ môi trường.

Bài tập 3 (trang 6 VBT Sinh học 8): Hãy đánh dấu × vào ô ở câu trả lời đúng nhất.

Trả lời:

Kiến thức về cơ thể người và vệ sinh có quan hệ mật thiết với những ngành nghề trong xã hội như:

Các bài giải vở bài tập Sinh học lớp 8 (VBT Sinh học 8) khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

【#4】Giải Vbt Lịch Sử 8: Bài 1. Những Cuộc Cách Mạng Tư Sản Đầu Tiên (Ngắn Gọn)

Bài 1: Những cuộc cách mạng tư sản đầu tiên

A. Trong lòng xã hội phong kiến đã suy yếu.

B. Không bị chế độ phong kiến kìm hãm.

C. Mặc dù bị kìm hãm nhưng vẫn phát triển.

A. Trong lòng xã hội phong kiến đã suy yếu.

A. Các công trường thủ công ra đời với nhiều xưởng thủ thuê mướn nhân công.

B. Nhiều thành thị trở thành trung tâm sản xuất và buôn bán.

C. Các ngân hàng được thành lập và ngày càng có vai trò to lớn.

A. Các công trường thủ công ra đời với nhiều xưởng thuê mướn nhân công.

Bài 3 trang 4 VBT Lịch Sử 8: Trước cách mạng Hà Lan (thế kỉ XVI), nhân dân Nê-đéc-lan chịu sự thống trị của nước nào?

A. Vương quốc Anh

B. Vương quốc Tây Ban Nha.

C. Bồ Đào Nha

D. Pháp

B. Vương quốc Tây Ban Nha.

– Vào đầu thế kỉ XVI, vùng đất Nê-đéc-lan có nền sản xuất TBCN phát triển nhất châu Âu, song sự thống trị của thực dân phong kiến Tây Ban Nha đã kìm hãm sự phát triển này.

– Tháng 8/1566, Nhân dân Nê-đéc-lan nổi dậy chống lại ách cai trị của thực dân phong kiến Tây Ban Nha.

– Năm 1581, bảy tỉnh miền Bắc Nê-đéc-lan thành lập nước Cộng hòa với tên gọi chính thức là “Các tỉnh liên hiệp” (sau này gọi là “Hà Lan”).

– Năm 1648, nền độc lập của Hà Lan chính thức được công nhận.

Bài 5 trang 4 VBT Lịch Sử 8: Vì sao cách mạng Hà Lan lại được coi là sự kiện mở đầu thời kì lịch sử thế giới cận đại? Hãy khoanh tròn vào chữ cái đầu câu mà em cho là đúng.

A. Cách mạng tư sản Hà Lan nổ ra đầu tiên (tháng 8/1566).

B. Lật đổ ách thống trị của vương quốc Tây Ban Nha.

C. Cách mạng Hà lan mở đầu thời đại mới – thời đại chủ nghĩa tư bản chiến thắng chế độ phong kiến.

D. Năm 1581, các tỉnh miền Bắc Nê-đéc-lan thành lập nước cộng hòa.

C. Cách mạng Hà lan mở đầu thời đại mới – thời đại chủ nghĩa tư bản chiến thắng chế độ phong kiến.

Nhiều trung tâm lớn về kinh tế, thương mại, tài chính của nước Anh xuất hiện, tiêu biểu là ở Luân Đôn.

Tầng lớp “quý tộc mới” là những quý tộc phong kiến đã tư sản hóa, kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, như: thuê công nhân nông nghiệp, mở công xưởng…

Đến giữa thế kỉ XVII, mâu thuẫn xã hội nước Anh diễn ra hết sức gay gắt.

Sau khi Cô-lôm-bô tìm ra châu Mĩ (năm 1492), thực dân châu Âu đã xâm lược và biến châu lục mới này thành thuộc địa của mình.

Trong các thế kỉ XVII – XVIII, thực dân Anh đã lần lượt thành lập 13 thuộc địa của mình ở Bắc Mĩ.

Thực dân Anh luôn tìm mọi cách ngăn cản, không cho công thương nghiệp ở các thuộc địa Bắc Mĩ phát triển (đánh thuế nặng, giữ độc quyền buôn bán….)

Nước Cộng hòa Bắc Mĩ ra đời.

Chiến tranh kết thúc và Hợp chúng quốc Mĩ ra đời.

Theo hiến pháp 1787, quyền dân chủ của mọi người dân đều được đảm bảo, trong đó có cả phụ nữ.

Bài 14 trang 7 VBT Lịch Sử 8: Có thể coi cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ là cuộc chiến tranh chính nghĩa được không? Hãy trình bày ý kiến của em.

Cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ là một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Bởi lẽ:

– Đây là cuộc chiến tranh nhằm giải quyết mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân thuộc địa Bắc Mĩ với thực dân Anh, đem lại quyền lợi chính đáng cho toàn dân tộc Bắc Mĩ (giành quyền độc lập, tự chủ…)

– Cuộc đấu tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ cũng đồng thời là cuộc đấu tranh cho “Nhân quyền”, trong đó nhấn mạnh đến các quyền cơ bản, thiêng liêng và bất khả xâm phạm là: tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc.

Bài 15 trang 8 VBT Lịch Sử 8: Em hãy nối ô bên trái với ô bên phải sao cho phù hợp?

Bài 16 trang 8 VBT Lịch Sử 8: Vì sao nói chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ đồng thời là cuộc cách mạng tư sản?

– Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ mang tính chất của một cuộc cách mạng tư sản vì: cuộc chiến tranh không chỉ giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà còn giải quyết những nhiệm vụ kinh tế – xã hội của 1 cuộc cách mạng dân chủ tư sản, như: thủ tiêu nền thống trị của quý tộc địa chủ Anh, mở đường cho sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

– Tuy nhiên, chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ là một cuộc cách mạng tư sản không triệt để, vì: không thủ tiêu thế lực của tầng lớp chủ nô, nhân dân lao động không được hưởng thành quả của cách mạng.

– Cách mạng tư sản là một sự kiện lịch sử diễn ra nhằm xóa bỏ các rào cản kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.

– Chế độ quân chủ Lập hiến là thể chế chính trị của một nước, trong đó: ngôi vua vẫn được duy trì song quyền lực của vua bị hạn chế bằng hiến pháp do Quốc hội (tư sản) định ra.

– Tầng lớp “Quý tộc mới” là bộ phận quý tộc sản xuất và kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, như: thuê nhân công nông nghiệp, mở công xưởng….