【#1】Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Kiểm Tra Phần Tiếng Việt (Lớp 9

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 135 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

Phân tích nét nổi bật của việc dùng từ láy của bốn câu trong Truyện Kiều (Nguyễn Du)

Phương pháp giải:

Trước hết, em liệt kê các từ láy trong bốn câu thơ, sau đó nhận xét về cách dùng các từ láy của tác giả (vừa tả cảnh, vừa tả tình).

Lời giải chi tiết:

– Những từ láy trong đọa thơ: nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu.

– Đặc điểm chung về cấu tạo của các ừ láy trong đoạn thơ: lặp lại toàn bộ tiếng đứng trước và tối đa một tiếng có nghĩa.

– Tác dụng về ý nghĩa của các từ láy trong đoạn thơ: vừa tả cảnh, vừa tả tâm trạng.

Câu 2 Câu 2 (trang 136 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

Đọc đoạn trích Mã Giảm Sinh mua Kiều – tìm lời dẫn trực tiếp. Nêu nhận xét về cách xưng hô, nói năng của Mã Giám Sinh và bà mối.

Phương pháp giải:

Lời dẫn trực tiếp được đặt trong dấu ngoặc kép, sau từ “rằng”. Cạc xưng hô, nói năng của hai nhân vật được thể hiện rõ trong lời nói của từng nhân vật.

Lời giải chi tiết:

– Trong đạo trích Mã Giám Sinh mua Kiều có những lời dẫn trực tiếp sau

+ câu trả lời về tên: Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”,

+ câu trả lời về quê quán: Hỏi quê rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”

+ câu hỏi mua giá Kiều : Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều”

+ câu trả lời của bà mối: Mối rằng: “Giá đáng nghìn vàng …”

– Nhận xét về cách xưng hô, nói năng của Mã Giám Sinh và bà mối:

+ Lời của Mã Giám Sinh vừa trịnh thượng, vô học (nói năng cộc lốc ở phần giới thiệu lai lịch), vừa kiểu cách giả tạo.

+ Lời của mụ mối đưa đẩy, vòng vo, nhún nhường giả tạo, đúng là kẻ chuyên nghề mối lái.

Câu 3 Câu 3 (trang 136 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

a. Trong số những từ ngữ hoặc câu được in đậm, đâu là lời dẫn trực tiếp, đâu là lời dẫn gián tiếp, đâu không phải lời dẫn

b. Vận dụng các phương châm hội thoại đã học, giải thích vì sao nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ trong lời nhận xét của mình.

Phương pháp giải:

Lời dẫn trực tiếp được đặt sau dấu chấm và dấu gạch ngang; lời dẫn gián tiếp được đặt sau dấu hai chấm. Nhân vật “thằng lớn” dùng từ “có lẽ” vì nhân vật này có được chứng kiến trực tiếp hay không?

Lời giải chi tiết:

a.

– Lời dẫn trực tiếp: Có lẽ các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt…

– Lời dẫn gián tiếp: Ngày trước, trước kia, đã có thời…

– Những chữ in đậm còn lại không phải là lời dẫn.

b. Sở dĩ nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ trong nhận xét của mình là vì: nhân vật chưa dám khẳng định chắc chắn điều mình nói (các bà đều rất tốt). Như vậy, nhân vật thằng lớn đã tuân thủ phương châm hội thoại về chất.

Câu 4 Câu 4 (trang 137 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

Phân tích nghệ thuật độc đáo được sử dụng trong các đoạn trích.

Phương pháp giải:

Đoạn trích a. sử dụng phép so sánh, câu trích b. sử dụng phép ẩn dụ (dùng sợi dây đàn để chỉ tâm hồn con người), đoạn trích c dùng phép nhân hóa và điệp ngữ. Hãy phân tích tác dụng của từng phép tu từ đó.

Lời giải chi tiết:

a. Tác giả đả sử dụng biện pháp so sánh. Hai dãy Trường Sơn được ví như hai con người (anh với em), như hai miền đất (Nam với Bắc), như hai phía (đông với tây) Đó là sự gắn bó keo sơn mà không gì có thể chia cắt được.

b. Thạch Lam đã sử dung biện pháp ẩn dụ. Tác giả đã dùng sợi dây đàn để chỉ tâm hồn con người. Đó là một tâm hồn nhạy cảm biết rung động trước cuộc sống và cuộc đời…

c. Thép Mới đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và điệp ngữ. Tre anh hùng như con người Việt Nam (từ đó gián tiếp ca ngợi con người Việt Nam anh hùng).

Câu 5 Câu 5 (trang 137 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

Những cách nói có sử dụng biện pháp nói quá.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ từng cách nói, đối chiếu với những đặc điểm của phép nói quá để thực hiện yêu cầu của bài tập (trong 13 cách nói đó, có 10 cách nói sử dụng nói quá).

Lời giải chi tiết:

Những cách nói sử dụng phép nói quá: chưa ăn đã hết, một tấc đến trời, một chữ bẻ đôi không biết, cười vỡ bụng, rụng rời chân tay, tức lộn ruột, tiếc đứt ruột, ngáy như sấm, nghĩ nát óc, đứt từng khúc ruột.

Nam.Name.Vn

Bài tiếp theo

【#2】Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Ánh Trăng

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Phương pháp giải:

Bài thơ cấu trúc như một câu chuyện kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm xúc trữ tình được bộc lộ theo trình tự thời gian của dòng tự sự đó.

Lời giải chi tiết:

– Nhận xét về bố cục bài thơ: bố cục bài thơ là tâm trọng của tác giả được kể theo trình tự thời gian (hồi nhỏ, hồi chiến tranh, rồi về thành phố), dòng cảm xúc trữ tình của nhà thơ men theo dòng tự sự này mà bộc lộ.

– Sự việc tạo nên bước ngoặt nằm ở khổ thơ thứ tư khi tác giả thấy vầng trăng tròn ở ngoài kia đối lập với phòng buyn- đinh tối om đã gợi bao kỉ niệm nghĩa tình.

Câu 2 Câu 2 (trang 106 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa. Hãy phân tích điều ấy. Khổ thơ nào trong bài thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm.

Phương pháp giải:

Đọc từng khổ thơ, tìm hình ảnh vầng trăng với những tầng ý nghĩa được thể hiện cụ thể hay có tính biểu tượng. Ý nghĩa biểu tượng tập trung nhất của vầng trăng là ở khổ thơ cuối cùng.

Lời giải chi tiết:

– Vầng trăng quá khứ: là một hình ảnh của thiên nhiên hồn nhiên, tươi mát, là người bạn tri kỉ suốt thời tuổi nhỏ rồi thời chiến tranh ở rừng.

-Vầng trăng hiện tại: trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa về trong tâm trí nhà thơ bao kỉ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh của thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu Như là đồng là bể – Như là sông là rừng hiện hình trong nỗi nhớ, trong cảm xúc “rung rung” của một con người đang sống giữa phố phường hiện đại.

– Vầng trăng có ý nghĩa biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, hơn thế, trăng còn là vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống.

+ Trong khổ cuối bài thơ – nơi tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm. Trăng cứ tròn vành vạnh như tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ.

+ Ánh trăng im phăng phắc chính là người bạn – nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ (và cả mỗi chúng ta): con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.

Phương pháp giải:

Bài thơ như một câu chuyện kể theo trình tự thời gian, kết hợp hài hòa tự sự và trữ tình, với giọng điệu tâm tình và với nhịp thơ thay đổi của từng khổ thơ, phù hợp với kết cấu và giọng điệu.

Lời giải chi tiết:

– Kết cấu của bài thơ: bài thơ như một câu chuyện nhỏ phát triển theo thời gian, có sự kết hợp hài hòa, tự nhiên giữa tự sự và trữ tình.

– Giọng điệu: tâm tình bằng thể thơ năm chữ, nhịp thơ khi thì trôi chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo lời kể, khi thì ngân nga thiết tha cảm xúc (khổ 5), lúc lại trầm lắng biểu hiện suy tư (khổ cuối).

Phương pháp giải:

Qua câu chuyện riêng, bài thơ nói lên điều tự nhắc nhở của tác giả và gợi nhắc người đọc về quá khứ và thái độ đối với quá khứ. Ý nghĩa của bài thơ trở nên khái quát hơn khi đi vào mạch cảm xúc “uống nước nhớ nguồn” trong đạo lý sống của nhân dân ta.

Lời giải chi tiết:

– Bài thơ được viết năm 1978, sau hòa bình ba năm.

– Chủ đề: bài thơ không chỉ là chuyện của riêng nhà thơ mà có ý nghĩa đối với cả một thế hệ bởi vì nó đặt ra vấn đề về thái độ với quá khứ, với người đã khuất, với cả chính mình.

Luyện tập (trang 108 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

Tưởng tượng mình là nhân vật trữ tình trong bài Ánh trăng, em hãy diễn tả dòng cảm nghĩ trong bài thơ thành một bài tâm sự ngắn.

Phương pháp giải:

Xem lại các bài tập ở trên để viết bài tâm sự theo yêu cầu của đề luyện tập.

Lời giải chi tiết:

Với tôi trăng như người bạn tri kỉ cùng tôi đi qua những năm tháng cuả tuổi thơ. Ngày ấy, tôi và trăng rất gần gũi, hồn nhiên, vô tư với nhau. Khi lớn lên, tôi tham gia chiến tranh, trăng cũng theo tôi vào ở rừng. Trong những ngày tháng gian lao ấy, trăng đã trở thành người bạn đồng hành cùng tôi qua những thăng trầm cuộc đời. Rồi hòa bình lập lại, tôi trở về thành phố với cuộc sống hiện đại, tiên nghi. Đắm chìm trong cuộc sống ấy, tôi vô tình đã lãng quên vầng trăng và quên đi cả lời hứa năm xưa của mình. Tôi đã quay lưng lại với vầng trăng, quay lưng lại với quá khứ, với thiên nhiên và chính mình. Trong một lần mất điện, tôi đã gặp lại vầng trăng. Trăng vẫn thế, vẫn tròn đầy, thủy chung và không trách cứ tôi nhưng tôi thấy thật ăn năn và hối hận vì sự vô tâm, bạc bẽo của mình.

Bài tiếp theo

【#3】Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Miêu Tả Và Biểu Cảm Trong Văn Bản Tự Sự

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 59 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Tìm một số đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm trong các tác phẩm đã học như Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Tôi đi học của Thanh Tịnh, Lão Hạc của Nam Cao.

Phương pháp giải:

Em đọc lướt 3 văn bản đã học, rồi tìm một đoạn văn trong đó có sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm. Chỉ ra các yếu tố miêu tả, biểu cảm trong đoạn văn và phân tích giá trị của các yếu tố đó.

Lời giải chi tiết:

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều.

– Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng…

Thằng Dần vục đầu vừa thổi vừa húp xoàn xoạt. Chị Dậu rón rén bưng một bát lớn đến chỗ chồng nằm.

Câu 2 Câu 2 (trang 60 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Hãy viết một đoạn văn kể về giây phút đầu tiên khi em gặp lại người thân sau một thời gian xa cách.

Phương pháp giải:

Muốn viết được đoạn văn theo các yêu cầu trên, trước hết em lập dàn ý đoạn. Trong dàn ý đoạn, cần nêu mấy ý sau: Từ xa thấy người thân như thế nào; đến gần thấy ra sao; hành động của em và người thân thế nào; những biểu hiện tình cảm của hai người khi gặp nhau thế nào; sau đó dựa vào dàn ý này, em viết thành đoạn văn. Viết xong, gạch dưới các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong đoạn văn.

Lời giải chi tiết:

Khác với mọi ngày, chiều nay em đi học về thấy cánh cửa nhà mở thật rộng. Qua hàng rào hoa dâm bụt em thấy trong nhà có một bóng người cao lớn đang đi lại… Em thắc mắc tự hỏi “Ai đây nhỉ?” và đi vội về…Vừa bước đến cửa thì một gương mặt thương nhớ hơn hai năm nay đối với em hiện ra làm em xúc động lặng người. Em vứt cặp xuống, chạy ào đến ôm thân hình vạm vỡ đầy sương gió và kêu lên: “Ôi! Bố!”. Em hỏi bố trong lời nghẹn ngào, “Bố về bao giờ thế?” và đôi dòng nước mắt trào ra. Bố em vừa cốc nhẹ lên đầu em, vừa nói: “Con gái bố lớn quá rồi!”. Em vừa xoa đôi má rám nắng, vừa hôn lên nước da ngăm đen mặn mòi mùi biển cả ấy, thế rồi hai bố con bỗng nhiên cười rất to…

– Chú thích:

+ Miêu tả: phần in đậm.

+ Biểu cảm: phần gạch chân.

chúng tôi

Bài tiếp theo

【#4】Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Cách Dẫn Trực Tiếp Và Cách Dẫn Gián Tiếp

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 25 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

Tìm lời dẫn trong những đoạn trích sau (trích từ truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao). Cho biết đó là lời nói hay ý nghĩ được dẫn, là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?

a) Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng: A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão đối xử với tôi như thế này à?”.

b) Sau khi thằng con đi, lão tự bảo rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưg buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả…”

Phương pháp giải:

– Ví dụ a: chú ý rằng con chó vàng không thể nói được, nhưng nó được nhân hóa, có thể “bảo” lão Hạc.

– Ví dụ b: lão Hạc tự bảo, có thể chỉ là ý nghĩ ở trong đầu, cũng có thể là ý nghĩa được “nói” ra.

Lời giải chi tiết:

Cách dẫn trong các câu ở (a) và (b) đều là dẫn trực tiếp.

a) “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”.

⟹ Lời nói

b) “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới đê ra năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọỉ thứ còn rẻ cả.”

⟹ Ý nghĩ

a: Ghi nhớ công lao các vị anh hùng.

b: Sự giản dị của Bác Hồ.

c: Niềm tự hào về tiếng Việt.

Lời giải chi tiết: Tham khảo đoạn văn sau:

Tiếng Việt là thứ của cải vô cùng lâu đời và quý báu của dân tộc. Tiếng Việt giúp chúng ta diễn tả đầy đủ và sâu sắc những tư tưởng, tình cảm của mình. Mỗi một người Việt Nam không ai không thấy được sự giàu đẹp, trong sáng trong tiếng nói của dân tộc mình. Nó luôn chứa đựng những giá trị, bản sắc tinh hoa của dân tộc qua hàng ngàc năm văn hiến. Ngày nay, tiếng Việt vẫn tiếp tục phát triển đế đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của thời đại. Để khẳng định những giá trị vô cùng quý báu của tiếng Việt, Giáo sư Đặng Thai Mai cũng đã nói: ” Người Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào với tiếng nói của mình“. Chúng ta tự hào về tiếng Việt thì phải biết giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của nó, phải biết phát huy nó theo một tầm cao mới của thời đại.

Như đoạn văn trên và điều chỉnh như sau:

Tiếng Việt là thứ của cải vô cùng lâu đời và quý báu của dân tộc. Tiếng Việt giúp chúng ta diễn tả đầy đủ và sâu sắc những tư tưởng, tình cảm của mình. Mỗi một người Việt Nam không ai không thấy được sự giàu đẹp, trong sáng trong tiếng nói của dân tộc mình. Nó luôn chứa đựng những giá trị, bản sắc tinh hoa của dân tộc qua hàng ngàc năm văn hiến. Ngày nay, tiếng Việt vẫn tiếp tục phát triển đế đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của thời đại. Để khẳng định những giá trị vô cùng quý báu của tiếng Việt, Giáo sư Đặng Thai Mai cũng đã nói rằng người Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào với tiêng nói của mình. Chúng ta tự hào về tiếng Việt thì phải biết giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của nó, phải biết phát huy nó theo một tầm cao mới của thời đại.

Câu 3 Câu 3 (trang 26 VBT Ngữ văn 9, tập 1):

Hãy thuật lại lời nhân vật Vũ Nương trong đoạn trích sau đây theo cách dẫn gián tiếp.

Phương pháp giải:

Chú ý khi dẫn gián tiếp, không cần dấu ngoặc kép và không cần đúng nguyên văn.

Lời giải chi tiết:

Hôm sau Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng mười hạt minh châu, sai sứ giả Xích Hỗn đưa Phan ra khỏi nước. Vũ Nương nhân đó cũng đưa gửi một chiếc hoa vàng và dặn Phan nói hộ với chàng Trương rằng nếu chàng còn nhớ đến chút tình xưa nghĩa cũ, thì xin lập một đàn giải oan ở bến sông, đốt cây đèn thần chiếu xuống nước, nàng sẽ trở về.

Bài tiếp theo

【#5】Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Đánh Nhau Với Cối Xay Gió

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 61 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Xác định ba phần của đoạn truyện này theo trình tự diễn biến trước, trong và sau khi Đôn-ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió. Liệt kê năm sự việc chủ yếu, qua đó tính cách của lão hiệp và bác giám mã được thể hiện.

Phương pháp giải:

Muốn tìm bố cục của đoạn truyện này, em đọc lại văn bản một lượt, dựa vào gợi ý trong đề bài trên để xác định ba phần của văn bản. Sau đó, tìm năm sự việc mà qua đó tính cách của hai nhân vật lão hiệp sĩ và bác giám mã được bộc lộ một cách rõ nét.

Lời giải chi tiết:

– Bố cục: 3 phần

+ Trước khi đánh nhau với cối xay gió: từ đầu đến ” không cân sức”.

+ Trong khi đánh nhau với cối xay gió: từ ” Nói rồi” đến ” người ngã văng ra xa”.

+ Sau khi đánh nhau với cối xay gió: đoạn còn lại.

– Liệt kê năm sự việc chủ yếu của lão hiệp sĩ và bác giám mã:

+ Đôn-ki-hô-tê phát hiện thấy ba, bốn chục chiếc cối xay gió giữa đồng. Đôn-ki-hô-tê cho rằng đó là những tên khổng lồ ghê gớm, cần giết hết bọn chúng.

+ Đôn-ki-hô-tê cầu mong nàng Đuyn-xi-nê-a cứu giúp rồi xông vào đánh cối xay gió.

+ Đôn-ki-hô-tê bị thương nặng vì bị cối xay gió đạp cánh quạt vào người và ngựa. Xan-chô đến cứu giúp, và hai thầy trò tranh luận nhau về cối xay gió.

+ Vừa bàn tán chuyện xả ra, hai thầy trò đi về phía cảng La-pu-xê vì theo Đôn-ki-hô- tê con đường này có nhiều chuyện phiêu lưu khác nhau.

+ Đêm hôm ấy, hai người ngủ dưới vòm cây. Đôn-ki-hô- tê không ngủ để nghĩ về nàng Đuyn-xi-nê-a.

Câu 2 Câu 2 (trang 62 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Qua năm sự việc ấy, phân tích những nét hay và nét dở trong tính cách của nhân vật hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê.

Phương pháp giải:

Về những nét hay trong tính cách của Đôn Ki-hô-tê, cần xét xem: Lão hiệp sĩ có khát vọng, mơ ước gì? Có dũng cảm không? Bị trọng thương nhưng có rên rỉ không? Có chạy theo chuyện ăn, chuyện ngủ không? Về những cái dở: đầu óc lão có tỉnh táo khoongg? Hành động của lão có ý nghĩa gì không?

Lời giải chi tiết:

Tính cách Đôn-ki-hô-tê:

– Cái hay:

+ Có hoài bão, ước mơ tốt: diệt ác, cứu nguy.

+ Gan dạ, dũng cảm.

– Cái dở:

+ Nghiêm nghị, khắc khổ, cứng nhắc.

+ Điên rồ, hoang tưởng.

Câu 3 Câu 3 (trang 63 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Vẫn qua các sự việc ấy, chứng minh nhân vật Xan-chô Pan-xa cũng bộc lộ cả mặt tốt và xấu.

Phương pháp giải:

Về những mặt tốt: Đầu óc của bác giám mã có tỉnh táo không? Bác có trung thành với chủ không? Còn về mặt chưa tốt: Bác dũng cảm hay nhút nhát? Bác có quá quan tâm đến những nhu cầu vật chất hàng ngày hay không?

Lời giải chi tiết:

Tính cách Xan-chô Pan-xa:

– Mặt tốt:

+ Sống vui vẻ, tự nhiên, thoải mái.

+ Đầu óc sáng, thiết thực.

– Mặt xấu:

+ Nhát gan, hay sợ.

+ Thiển cận, vụ lợi.

Câu 4 Câu 4 (trang 63 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

Đối chiếu Đôn-ki-hô-tê và Xan-chô Pan-xa về các mặt: dáng vẻ, nguồn gốc xuất thân, suy nghĩ, hành động,… để thấy rõ nhà văn đã xây dựng một cặp nhân vật tương phản.

Phương pháp giải:

– Về dáng vẻ bên ngoài, hai nhân vật đối lập nhau về chiều cao, hình thể; về nguồn gốc xuất thân, một người xuất thân quý tộc, người kia vốn là nông dân.

– Còn sự khác nhau về suy nghĩ, hành động được thể hiện khá rõ nét trong đoạn truyện này.

chúng tôi

Bài tiếp theo

【#6】Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 25 VBT Ngữ văn 6, tập 1): Đọc mẩu chuyện sau và trả lời câu hỏi: Trong truyện này, phương thức tự sự thể hiện như thế nào? Câu chuyện thể hiện ý nghĩa gì? Ông già và thần chết Một lần ông già đẵn xong củi và mang về. Phải mang đi xa ông già kiệt sức, đặt bó củi xuống rồi nói: – Chà, giá Thần Chết đến mang ta đi thì có phải hơn không! Thần Chết đến và bảo: – Ta đây, lão cần gì nào? Ông già sợ hãi bảo: – Lão muốn ngài nhấc hộ bó củi lên cho lão.

(Lép Tôn-xtôi, Kiến và chim bồ câu)

Phương pháp giải:

Truyện kể về sự thay đổi suy nghĩ và hành động của ông già trước và sau khi xuất hiện Thần Chết, cho dù kiệt sức mà vẫn ham sống.

Lời giải chi tiết:

– Phương thức tự sự trong truyện: kể theo trình tự thời gian, sự việc nối tiếp nhau, kết thúc bất ngờ. (ngôi kể thứ 3).

– Ý nghĩa câu chuyện: thể hiện lòng ham sống của con người.

Câu 2 Câu 2 (trang 25 VBT Ngữ văn 6, tập 1): Bài thơ sau đây có phải tự sự không, vì sao? Hãy kể lại câu chuyện bằng miệng. Sa bẫy Bé Mây rủ mèo con Đánh bẫy bầy chuột nhắt Mồi thơm: cá nướng ngon Lửng lơ trong cạm sắt. Lũ chuột tham hoá ngốc Chẳng nhịn thèm được đâu! Bé Mây cười tít mắt Mèo gật gù, rung râu. Đêm ấy Mây nằm ngủ Mơ đầy lồng chuột sa Cùng mèo con đem xử Chúng khóc ròng, xin tha ! Sáng mai vùng xuống bếp: Bẫy sập tự bao giờ Chuột không, cá cũng hết Giữa lồng mèo nằm… mơ !

(Nguyễn Hoàng Sơn, Dắt mùa thu qua phố )

Phương pháp giải:

Liệt kê chuỗi sự việc nối theo nhau dẫn đến kết thúc truyện một cách bất ngờ. Dựa vào đó mà kể lại bằng miệng.

Lời giải chi tiết:

1. Bé Mây và mèo con rủ nhau đánh bẫy bầy chuột nhắt

2. Đêm ấy bé Mây nằm ngủ thấy bầy chuột bị sa bẫy

3. Sáng ra lại thấy cá trong bẫy bị ăn mất mà không có con chuột nào sa bẫy, lại thấy chú mèo nằm giữa lồng.

Câu 3 Câu 3 (trang 25 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Hai văn bản: Huế: Khai mạc trại điêu khắc quốc tế lần thứ ba và Người Âu Lạc đánh tan quân Tần xâm lược trong SGK có nội dung tự sự không? Vì sao? Tự sự ở đây có vai trò gì?

Lời giải chi tiết: Câu 4 Câu 4 (trang 26 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Hãy kể câu chuyện để giải thích vì sao người Việt Nam tự xưng là con Rồng, cháu Tiên.

Phương pháp giải:

Mục đích kể chuyện là giải thích vì sao người Việt tự xưng là con Rồng cháu Tiên, vì vậy cần chọn các chi tiết vừa đủ để kể một cách tóm tắt, không cần các chi tiết không đáp ứng mục đích trên. Ghi lời kể vào vở bài tập.

Lời giải chi tiết:

Kể câu chuyện để giải thích người Việt Nam tự xưng là con Rồng cháu Tiên:

Truyền thuyết kể lại rằng tổ tiên người Việt xưa là Hùng Vương, lập nên nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Hùng Vương là con trai của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Lạc Long Quân vốn thuộc nòi Rồng, thường ở dưới nước, còn Âu Cơ là tiên, thuộc dòng Thần Nông. Long Quân kết duyên cùng Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm người con. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương truyền lại nhiều đời. Vì thế, người Việt Nam vẫn tự xưng là con Rồng cháu Tiên để tưởng nhớ tổ tiên của mình.

Câu 5 Câu 5 (trang 26 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Trong cuộc họp lớp đầu năm Giang, đề nghị bầu Minh làm lớp trưởng, vì bạn Minh đã chăm học, học giỏi, lại thường giúp đỡ bạn bè. Theo em, Giang có nên kể vắn tắt một vài thành tích của Minh để thuyết phục các bạn cùng lớp hay không?

Phương pháp giải:

Giang nên kể một vài sự việc nhằm giới thiệu cho các bạn biết về việc Minh chăm học, học giỏi và thường giúp đỡ bạn bè để các bạn thấy rằng Minh xứng đáng được bầu làm lớp trưởng.

Lời giải chi tiết:

a, Những sự việc chứng tỏ Minh chăm học:

– Minh luôn chăm chú nghe thầy cô giảng bài khi ở trên lớp.

– Về nhà, mọi bài tập Minh đều hoàn thành tốt.

– Minh tự tìm thêm sách và các bài tập khó để giải.

b, Những sự việc cho thấy Minh học giỏi:

– Minh luôn đạt thành tích cao nhất lớp.

– Minh còn được dự thi học sinh giỏi cấp trường và thành phố.

c, Những sự việc cho thấy Minh thường giúp đỡ bạn bè:

– Minh luôn giúp các bạn học kém hơn trong học tập.

– Khi một bạn trong lớp bị ngã, Minh tới nhà và chở bạn ấy cùng đi học.

Lan: Tự sự là kể ra các việc mà ai đó đã làm.

Mai: Tự sự là kể một sự việc hấp dẫn.

Hùng: Tự sự là kể một chuỗi sự việc, việc này tiếp sau việc kia.

Minh: Tự sự là kể các sự việc liên tiếp nhau, dẫn đến một kết thúc có ý nghĩa nào đó.

Theo em bạn nào nói đúng? Vì sao?

Phương pháp giải:

So sánh từng ý kiến với nội dung Ghi nhớ trong SGK để thấy bạn nào nói không đầy đủ, bạn nào nói đầy đủ, sau đó trả lời.

Lời giải chi tiết:

Bạn Minh trả lời đúng vì ý kiến của Minh chính xác và đầy đủ nhất.

chúng tôi

Bài tiếp theo

【#7】Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Sự Việc Và Nhân Vật Trong Văn Tự Sự

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 33 VBT Ngữ văn 6, tập 1): Chỉ ra những việc mà các nhân vật trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh đã làm.

a) Nhận xét vai trò, ý nghĩa của các nhân vật.

b) Tóm tắt truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh theo sự việc gắn với các nhân vật chính.

c) Tại sao lại gọi là Sơn Tinh, Thủy Tinh? Nếu đổi bằng các tên sau có được không?

– Vua Hùng kén rể

– Truyện vua Hùng, Mị Nương, Sơn Tinh và Thủy Tinh.

– Bài ca chiến công của Sơn Tinh.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ truyện, lần lượt theo yêu cầu của bài tập mà tìm nội dung ghi vào các chỗ trống cho phù hợp.

Trả lời câu a, cần xác định rõ ai là nhân vật chính, ai là nhân vật phụ. Nhân vật chính là những nhân vật có hoạt động xuyên suốt từ đầu đến cuối câu chuyện.

Trả lời câu b, chỉ cần kể vắn tắt các sự việc gắn với nhân vật chính.

Sau khi đã nắm chắc nhân vật chính và các sự việc, hãy tóm tắt truyện theo sự việc gắn với nhân vật chính.

Lời giải chi tiết:

a) Vai trò, ý nghĩa của các nhân vật:

– Vua Hùng: Nhân vật phụ, nhưng không thể thiếu vì ông là người quyết định cuộc hôn nhân lịch sử.

– Mị Nương: Nhân vật phụ, nhưng cũng không thể thiếu vì nếu không có nàng thì không có chuyện hai thần xung đột ghê gớm như thế.

– Thủy Tinh: Nhân vật chính, đối lập với Sơn Tinh, được nói tới nhiều. Hình ảnh thần thoại hóa sức mạnh của lũ bão ở vùng châu thổ sông Hồng.

– Sơn Tinh: Nhân vật chính, đôi lập với Thủy Tinh, người anh hùng chống lũ lụt của nhân dân Việt cổ.

b) Tóm tắt truyện theo sự việc chính của các nhân vật:

– Vua Hùng kén rể

– Hai thần đến cầu hôn

– Vua Hùng ra điều kiện, cố ý thiên lệch cho Sơn Tinh

– Sơn Tinh đến trước, được vợ, Thủy tinh đến sau, mất Mị Nương, đuổi theo định cướp nàng.

– Trận đánh dữ dội giữa hai thần. Kết quả: Sơn Tinh thắng, Thủy Tinh thua, đành rút quân.

– Hằng năm, hai thần vẫn kịch chiến suốt mấy tháng trời, nhưng lần nào Thủy Tinh cũng thất bại, rút lui.

c) Truyện được dặt tên là Sơn Tinh, Thủy Tinh vì đây là tên của hai nhân vật chính.

* Không nên đổi thành các tên, vì:

– Vua Hùng kén rể, chưa nói rõ nội dung chính của truyện.

– Truyện vua Hùng, Mị Nương, Sơn Tinh và Thủy Tinh: tên thừa, hai nhân vật vua Hùng, Mị Nương chỉ đóng vai phụ.

* Có thể sử dụng tên truyện: Bài ca chiến công của Sơn Tinh, vì nó phù hợp với nội dung của truyện.

Câu 2 Câu 2 (trang 35 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Người ta hiểu sự việc trong văn tự sự là những hành động làm nảy sinh các sự việc khác, làm thay đổi và bộc lộ tính cách nhân vật. Em hãy chỉ ra các sự việc như vậy trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh.

Phương pháp giải:

Em hãy liệt kê ra các sự việc có tác dụng làm thay đổi và bộc lộ tính cách nhân vật.

Lời giải chi tiết:

Các sự việc có tác dụng làm thay đổi và bộc lộ tính cách nhân vật của truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh là:

– Vua Hùng kén rể cho công chúa Mị Nương và đề ra yêu cầu về sính lễ.

– Sơn Tinh mang sính lễ đến trước và được rước Mị Nương về núi.

Câu 3 Câu 3 (trang 35 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Cho nhan đề truyện: Một lần không vâng lời. Em hãy tưởng tượng để kể một câu chuyện theo nhan đề ấy. Em dự định sẽ kể sự việc gì, diễn biến ra sao, nhân vật của em là ai?

Phương pháp giải:

Xem lại nội dung phần Ghi nhớ ở bài 2 (SGK tr. 28) để sáng tạo câu chuyện.

Lời giải chi tiết: Dàn ý:

– Nhân vật trong câu chuyện là tôi (kể theo ngôi thứ nhất).

– Lựa chọn sự việc phù hợp với bản thân.

– Kể diễn biến cụ thể

– Kết quả sự việc ra sao?

– Bài học rút ra cho bản thân.

Lúc sau, nhận ra sự vắng mặt của tôi, bố mẹ lo lắng đi tìm. Từ lúc trưa nắng cho đến chiều, vẫn chưa tìm được con, bố mẹ tôi gọi cứu hộ giúp đỡ, họ gặp những người bố, người mẹ của các bạn khác. Đến tối, các nhân viên cứu hộ đã tìm được tôi và các bạn đang sợ hãi ngồi trong rừng tối.

Sau sự việc ấy, tôi đã bị bố nặng lời trách mắng vì lo lắng. Tôi ân hận vô cùng và tự hứa sẽ không bao giờ trái lời bố mẹ nữa.

chúng tôi

Bài tiếp theo

【#8】Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Sọ Dừa

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 47 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Sự ra đời của Sọ Dừa có gì khác thường? Kể về sự ra đời của Sọ Dừa như vậy, nhân dân muốn thể hiện điều gì và muốn chú ý đến những con người như thế nào trong xã hội xưa?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn từ “Ngày xưa, có hai vợ chồng” đến “vứt con đi mà tội nghiệp”. Chú ý các chi tiết khác thường về hoàn cảnh gia đình, quá trình thụ thai, lúc ra đời.

Lời giải chi tiết:

a, Những chi tiết chứng tỏ sự ra đời khác thường của Sọ Dừa:

– Hoàn cảnh gia đình: gia đình nghèo, bố mẹ phải đi ở cho phú ông, tới ngoài năm mươi mà vẫn chưa có con.

– Thụ thai khác thường: người vợ uống nước mưa trong cái sọ dừa bên gốc cây to rồi có mang.

– Khi sinh ra cũng khác thường: bà sinh ra đứa bé không chân, không tay, tròn như một quả dừa.

b, Qua việc kể về Sọ Dừa, nhân dân muốn:

– Muốn nói về một sự bất hạnh

– Muốn thể hiện một tình thương

– Muốn gây sự chú ý cho người nghe (người đọc)

c, Nhân dân muốn chú ý đến những con người như:

– Những người bất hạnh

– Những người nghèo khổ

Câu 2 Câu 2 (trang 48 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Sự tài giỏi của Sọ Dừa thể hiện qua những chi tiết nào? Em có nhận xét gì về quan hệ giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ toàn truyện thì mới tìm được các chi tiết thể hiện sự tài giỏi của Sọ Dừa. Chú ý các đoạn nói về Sọ Dừa tự làm việc, vui chơi, cần hôn, khi thi, khi chia tay với vợ.

Lời giải chi tiết:

a, Những chi tiết thể hiện sự tài giỏi của Sọ Dừa:

– Sọ Dừa thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ.

– Sọ Dừa chuẩn bị đủ hết tất cả những sính lễ mà phú ông yêu cầu.

– Sọ Dừa đỗ trạng nguyên.

– Sọ Dừa khi chia tay vợ đã đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà để phòng khi cần đến.

Xác nhận quan hệ nào là phù hợp:

– Xấu và đẹp

– Dị dạng và hài hòa

– Vô tích sự và có ích

– Bất tài và tài năng

b, Nhận xét của em về quan hệ giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật:

Hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật hoàn toàn trái ngược nhau. Bề ngoài kì lạ và dị dạng, không phải là con người, trông rất xấu xí nhưng nhân vật lại vô cùng tài năng, thông minh, giàu tình yêu thương, đó là một phẩm chất đẹp đẽ, đáng quý.

Câu 3 Câu 3 (trang 49 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Tại sao cô út lại bằng lòng lấy Sọ Dừa? Em có nhận xét gì về nhân vật cô út?

Phương pháp giải:

Chi tiết quan trọng nhất là cô út nhìn thấy Sọ Dừa sau khi bỏ lốt, nhưng lí do khiến cô bằng lòng lấy Sọ Dừa không dừng lại ở đó mà nằm trong phẩm chất con người cô.

Lời giải chi tiết:

a, Lí do quan trọng nhất khiến cô út bằng lòng lấy Sọ Dừa:

– Sọ Dừa không phải là người phàm trần

– Cô thương Sọ Dừa nghèo

– Cô thấy Sọ Dừa chăm chỉ làm việc

b, Những từ chỉ phẩm chất của cô là: tốt bụng, hiền lành, chân thật, thông minh.

Câu 4 Câu 4 (trang 49 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Trong truyện, Sọ Dừa có hình dạng xấu xí nhưng cuối cùng đã được trút bỏ lốt, cùng cô út hưởng hạnh phúc, còn hai cô chị thì phải bỏ nhà trốn đi. Qua kết cục này, em thấy người lao động mơ ước điều gì?

Mơ ước của người lao động:

– Mơ ước thiện thắng ác

– Mơ ước gia đình hạnh phúc

– Mơ ước tình yêu tự do

Phương pháp giải:

Thể hiện ước mơ là đặc điểm chung của truyện cổ tích. Truyện này cũng thể hiện nhiều ước mơ, cần chọn ước mơ phù hợp nhất.

Lời giải chi tiết:

Mơ ước của người lao động:

– Mơ ước thiện thắng ác

– Mơ ước gia đình hạnh phúc

– Mơ ước tình yêu tự do

Câu 5 Câu 5 (trang 50 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Sọ Dừa đề cao giá trị chân chính của con người hay chỉ là sự thể hiện tình thương đối với con người bất hạnh? Vì sao?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần Ghi nhớ trong SGK để trả lời câu hỏi.

Lời giải chi tiết:

Truyện Sọ Dừa đề cao giá trị chân chính của con người chứ không chỉ là sự thể hiện tình thương đối với con người bất hạnh bởi vì đây là câu chuyện thuộc kiểu người mang lốt vật, truyện luôn nhằm tập trung làm bật nổi phẩm chất ẩn bên trong hình hài dị dạng của nhân vật.

Câu 6 Câu 6 (trang 50 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Trong truyện Tấm Cám có chi tiết cô Tấm bước ra từ quả thị, giúp bà lão hàng nước dọn dẹp nhà cửa, hãy so sánh với chi tiết chàng trai bước ra từ cục thịt tròn như sọ dưa, chăn trâu và thổi sáo để tìm những điểm giống nhau và khác nhau.

Phương pháp giải:

Đọc truyện Tấm Cám trong SGK Ngữ văn 10 để tìm những điểm giống và khác nhau để tìm những điểm giống và khác nhau giữa hai chi tiết này ở hai truyện. Hãy đánh dấu X vào cột tương ứng sau:

Lời giải chi tiết: Câu 7 Câu 7 (trang 50 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Vì sao chỉ có cô con gái út của phú ông được hưởng hạnh phúc với Sọ Dừa?

Phương pháp giải:

Đọc trong truyện sẽ thấy: cô út biết Sọ Dừa là chàng trai đẹp, có tài nên đã nhận lời cầu hôn, còn hai chị chỉ biết Sọ Dừa là một cục thịt nên từ chối. Đó là lí do trực tiếp. Nguyên nhân sâu xa là quan niệm về người con út trong truyện cổ tích. Hãy suy nghĩ về hướng này để tìm câu trả lời.

Lời giải chi tiết:

– Cô con gái út là người nhận ra được vẻ đẹp thật sự ẩn giấu bên trong của Sọ Dừa nên đem lòng thương và yêu quý Sọ Dừa và đã nhận lời lấy Sọ Dừa.

– Truyện cổ tích luôn quan niệm người con út là người chịu nhiều thiệt thòi nhất nhưng cũng là người có phẩm chất tốt đẹp và xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhất.

chúng tôi

Bài tiếp theo

【#9】Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Danh Từ

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 76 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Liệt kê một số danh từ chỉ sự vật mà em biết. Đặt câu với một trong các danh từ ấy.

Phương pháp giải:

Quan sát các sự vật xung quanh và tìm các danh từ gọi tên các sự vật đó. Chọn lấy một danh từ trong số các danh từ đã tìm được để đặt câu.

Lời giải chi tiết:

Một số danh từ chỉ sự vật: bàn, ghế, nhà, cửa, cơm, gạo, ngô, khoai…

– Đặt câu: Chiếc bàn được làm bằng đá.

Câu 2 Câu 2 (trang 76 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Liệt kê các loại từ

a, Chuyên đứng trước danh từ chỉ người, ví dụ: ông, vị, cô,…

b, Chuyên đứng trước danh từ chỉ đồ vật, ví dụ: cái, bức, tấm,…

Phương pháp giải:

Các danh từ trong tiếng Việt chỉ người và chỉ đồ vật kết hợp với các loại từ khác nhau. Ví dụ: trước danh từ chỉ người là các loại từ: cái, bức, tấm,…

Lời giải chi tiết:

a) Chuyên đứng trước danh từ chỉ người: ngài, viên, người, em, ông, bà,…

b) Chuyên đứng trước danh từ chỉ đồ vật: quyển, quả, tờ, chiếc, cái,…

Câu 3 Câu 3 (trang 77 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Liệt kê các danh từ:

a, Chỉ đơn vị quy ước chính xác.

b, Chỉ đơn vị quy ước ước chừng.

Phương pháp giải:

Bài tập yêu cầu tìm các danh từ chỉ đơn vị. Có hai loại danh từ chỉ đơn vị: danh từ chỉ đơn vị quy ước chính xác (như mét, ki-lô-gam); danh từ chỉ đơn vị quy ước ước chừng: nắm, mớ…

Lời giải chi tiết:

a. Chỉ đơn vị quy ước chính xác: mét, lít, ki-lô-gam, tạ, tấn, yến, cân, gam, lạng, héc-ta…

b. Chỉ những quy ước ước chừng: nắm, mớ, đàn, cây, que, bó, quãng…

Câu 4 Câu 4 (trang 77 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Tìm các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên trong các câu sau:

a, Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây.

b, Vua vẽ một thỏi vàng, thấy còn nhỏ quá, lại vẽ một thỏi thứ hai lớn hơn.

c, Nhân buổi ế hàng, năm ông thầy bói ngồi chuyện gẫu với nhau.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ các câu đã cho để tìm các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên có trong từng câu.

Lời giải chi tiết:

Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên:

+ Câu a: chĩnh, tấm, con, vò

+ Câu b: thỏi

+ Câu c: buổi

Câu 5 Câu 5 (trang 77 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Tìm các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (loại từ) có thể kết hợp với mỗi danh từ sau: đá, thuyền, vải.

Phương pháp giải:

Có nhiều danh từ chỉ đơn vị tự nhiên có thể kết hợp với mỗi từ trên. Mỗi danh từ chỉ đơn vị tự nhiên đó cho thấy sự vật tồn tại ở những dạng khác nhau.

Lời giải chi tiết: Câu 6 Câu 6 (trang 78 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Tìm các danh từ chỉ đơn vị để điền vào chỗ trống trong các câu sau.

Phương pháp giải:

Căn cứ vào các danh từ sau chỗ trống, lựa chọn danh từ chỉ đơn vị thích hợp để điền vào chỗ trống.

Lời giải chi tiết:

a, Đám trẻ tập trung ở đầu làng

b, Mẹ em mua cho em hai bộ quần áo mới

Câu 7 Câu 7 (trang 78 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

Trong hai trường hợp sau đây, trường hợp nào có thể điền danh từ chỉ đơn vị tự nhiên vào chố trống.

Phương pháp giải:

Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên dùng kèm danh từ chỉ sự vật tồn tại ở dạng cá thể. Khi dùng danh từ với nghĩa chỉ loại thì không dùng kèm danh từ chỉ đơn vị tự nhiên.

Lời giải chi tiết:

+ Trường hợp có thể điền danh từ chỉ đơn vị tự nhiên là câu: a

+ Trường hợp không thể điền danh từ chỉ đơn vị tự nhiên là câu: b

+ Vì: Câu a nói đến một con mèo cụ thể, còn câu b nói đến lòi mèo nói chung.

Bài tiếp theo

【#10】Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt (Tuần 14)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Phần I CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI Câu 1 (trang 123 VBT Ngữ văn 9, tập 1): Ôn lại nội dung các phương châm hội thoại. Trả lời.

– Phương châm về chất: Nội dung lời nói phải đúng như yêu cầu giao tiếp, không thừa, không thiếu.

– Phương châm về lượng: Không nói những điều mình tin là không đúng hoặc không có bằng chứng xác thực.

– Phương châm quan hệ: Nói đúng đề tài giao tiếp, không nói lạc đề.

– Phương châm cách thức: Nói gắn gọn, rành mạch, tránh cách nói mơ hồ.

– Phương châm lịch sự: Chú ý đến sự tế nhị, khiêm tốn, tôn trọng người khác khi giao tiếp.

Câu 2 (trang 124 VBT Ngữ văn 9, tập 1): Một số tình huống giao tiếp không tuân thủ phương châm hội thoại. Trả lời.

Chuyện 1: Trong giờ địa lý, thầy giáo hỏi một học sinh đang mải nhìn qua cửa sổ:

– Em cho thầy biết, sóng là gì:

Học sinh trả lời:

– Thưa thầy, “Sóng” là bài thơ của Xuân Quỳnh ạ!

Mẩu chuyện trên, học sinh không tuân thủ phương châm quan hệ trong giao tiếp.

Chuyện 2: Người con đăng ki học tin học ngoài giờ, về nói với bố:

– Bố ơi! Cho con tiền đóng để học tin học.

Người bố hỏi:

– “Tin học” là gì con?

Người con trả lời:

– “Tin học” là ai “tin” thì đi “học”!

Câu trả lời của người con không tuân thủ phương châm về chất trong giao tiếp.

Phần II XƯNG HÔ TRONG HỘI THOẠI Câu 1 (trang 124 VBT Ngữ văn 9, tập 1): Ôn lại các từ ngữ xưng hô thông dụng trong hội thoại. Trả lời:

– Tôi, tao, tớ, ta, mình, mày, nó, hắn, chúng mày, chúng nó, chúng tôi…

– Ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, cô, dì, anh, chị, em, thầy, cô, bạn…

Tùy theo hoàn cảnh giao tiếp mà sử dụng từ ngữ xưng hô thích hợp.

Chẳng hạn chị của mình là cô giáo dạy mình, trong lớp học phải xưng cô – em: ngoài đời xưng hô là chị – em.

Hoặc một người bạn mới quen cùng lúc có thể xưng hô: tôi, mình bạn; khi đã quen thân có thể xưng hô tớ – cậu…

Câu 2 (trang 125 VBT Ngữ văn 9, tập 1): Trong tiếng Việt, xưng hô thường tuân thủ theo quan điểm “xưng khiêm, hô tôn”. Em hiểu phương châm đó như thế nào? Cho ví dụ minh họa. Trả lời:

Phương châm: xưng khiêm, hô tôn có nghĩa là khi xưng hô, khi nói tự xưng mình một cách khiêm nhường và gọi người đối thoại cách tôn kính.

Ví dụ:

+ Thời phong kiến, từ bệ hạ dùng để gọi vua, nói với vua, ý tôn kính.

+ Ngày nay những từ như: quý ông, quý bà, quý khách, quý cô, anh… dùng để gọi người đối thoại với ý tôn kính, lịch sự. Có khi n đốì thoại nhỏ hơn mình nhưng vẫn xưng là em, gọi người nghe là hoặc bác (thay cho con).

Câu 3 (trang 125 VBT Ngữ văn 9, tập 1): Vì sao trong tiếng Việt, khi giao tiếp, người nói phải hết sức chú ý đến lựa chọn từ ngữ xưng hô? Trả lời:

Sở dĩ trong tiếng Việt, khi giao tiếp người nói phải hết sức chú ý đến sự lựa chọn từ ngữ xưng hô là vì: hầu như tiếng Việt không có từ xưng hô mang tính chất trung hòa. Mỗi phương tiện xưng hô trong tiếng Việt đều thể hiện tính chất của tình huống giao tiếp: thân mật hay xã giao; môi quan hệ giữa người nói – người nghe: thân hay sơ, khinh hay trọng… Nếu không lựa chọn từ ngữ xưng hô trong giao tiếp phù hợp tình huống và quan hệ thì sẽ không đạt được hiệu quả thực tiễn của trình giao tiếp.

Phần III CÁCH DẪN TRỰC TIẾP VÀ CÁCH DẪN GIÁN TIẾP Câu 1 (trang 125 VBT Ngữ văn 9, tập 1): Ôn lại sự phân biệt giữa cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp Trả lời:

– Dẫn trực tiếp:

+ Là cách nhắc lại nguyên vẹn lời hay ý của của người hoặc nhân vật.

+ Dùng dấu hai chấm để ngăn cách phần được dẫn, thường kèm thêm dấu ngoặc kép.

– Dẫn gián tiếp:

+ Nhắc lại lời hay ý của nhân vật, có điều chỉnh theo kiểu thuật lại, không giữ nguyên vẹn.

+ Không dùng dấu hai chấm.

Câu 2 (trang 126 VBT Ngữ văn 9, tập 1): Chuyển đổi lời thoại trong đoạn trích thành lời dẫn gián tiếp. Trả lời:

Vua Quang Trung hỏi Nguyễn Thiếp là quân Thanh sang đánh, nếu nhà vua đem binh ra chống cự thì khả năng thắng hay thua như thế nào?

Nguyễn Thiếp trả lời rằng bấy giờ trong nước trống không, lòng người tan rã, quân Thanh ở xa tới, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh nên giữ ra sao, vua Quang Trung ra Bắc không quá mười ngày, quân Thanh sẽ bị dẹp tan.

– Từ xưng hô tôi (ngôi thứ 1), (ngôi thứ 2) trong lời đối thoại được thay đổi nhà vua (ngôi thứ 3),vua Quang Trung (ngôi thứ 3).

– Từ chỉ địa điểm đấy trong lời đối thoại tỉnh lược.

– Từ chỉ thời gian: bây giờ trong lời đối thoại đổi thành bấy giờ.

chúng tôi

Bài tiếp theo