Giải Vbt Ngữ Văn 9 Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ý (Tiếp Theo)

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Cách Làm Bài Nghị Luận Về Tác Phẩm Truyện (Hoặc Đoạn Trích)
  • Bài 25. Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ý (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ẩn
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Nghĩa tường minh và hàm ý (tiếp theo)

    Câu 1: Bài tập 2, tr. 92, SGK Trả lời:

    – Hàm ý của câu đó là: nhờ chắt nước giùm để cơm khỏi nhão

    – Em bé không nói thẳng ý của mình mà phải dùng hàm ý vì: lần trước đã nói thẳng rồi mà không hiệu quả, vì vậy bực mình, thời gian lúc này lại bức bách hơn

    – Về thành công, trong tình huống truyện, việc dùng hàm ý là không hiệu quả

    – Bởi vì người nghe vẫn ngồi im, không cộng tác, vờ như không hiểu, không nghe thấy

    Câu 2: Bài tập 3, tr. 92, SGK Trả lời:

    – Có thể trả lời như sau: Ngày kia mình có bài kiểm tra, Nhưng mai mình còn phải đi thăm người ốm,…

    a. Câu của ông chồng có hàm ý gì?

    b. Bà vợ có hiểu đúng hàm ý của ông chồng không hay lại hiểu sang một ý nghĩa khác?

    Trả lời:

    a. Câu của ông chồng có hàm ý là: nếu cầu thủ này có chân trái cậu sẽ làm nên những pha bóng tuyệt vời chỉ có trên lí thuyết, làm nức lòng người hâm mộ

    b. Câu nói của bà vợ chứng tỏ ba hiểu theo nghĩa khác đó là: cầu thủ này bị cụt một chân mà vẫn ham mê chơi bóng

    Câu 4: Đọc đoạn hội thoại sau và trả lời câu hỏi ở dưới Bố: B ơi! Có tiếng chuông cửa dưới tầng một kìa Con trai: Con đang tắm bố ạ Bố: Thế thì để bố xuống mở của vậy

    Câu hỏi:

    a. Câu đầu của bố có hàm ý gì?

    b. Người con có hiểu được hàm ý của bố không? Câu trả lời của người con có hàm ý gì?

    c. Câu thứ hai của người bố chứng tỏ ông có hiểu hàm ý của người con không?

    Trả lời:

    a. Câu đầu của người bố thông báo một sự việc nhưng mục đích là sai con

    Do đó nó có hàm ý là bảo con xuống mở của đi

    b. Câu trả lời của người con chứng tỏ cậu ta hiểu hàm ý trong câu nói của bố

    Câu trả lời của người con cũng có hàm ý: con đang tắm nên không xuống mở cửa được, bố mở giùm con

    c. Câu thứ hai của người bố chứng tỏ ông đã hiểu ý con

    Câu 5: Hãy dùng cách lảng tránh ở vị trí của B với hàm ý trả lời phủ định đối với câu hỏi của A sau đây: A: Cậu thấy thằng X chơi bóng đá thế nào? B:……………………………………. A: Thế là rõ rồi Trả lời:

    Có thể trả lời bằng một trong các cách sau

    – Trong đội của thằng X thằng Y chơi hay nhất

    – Nó mặc áo cầu thủ rất đẹp

    – Hình như nó không có chân trái

    Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 9 (VBT Ngữ Văn 9) khác:

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dàn Ý Phân Tích Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh
  • Soạn Bài Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 5: Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 4: Cách Dẫn Trực Tiếp Và Cách Dẫn Gián Tiếp
  • Soạn Bài Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ý (Tiếp Theo)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 3 Trang 92 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Soạn Bài Ôn Tập Tiếng Việt Lớp 9 Học Kì 2
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt Trang 109 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2 (Chi Tiết)
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Trang 109 Tập 2 Bài 8.1, 8.2
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2
  • Soạn bài Nghĩa tường minh và hàm ý (tiếp theo)

    I. Điều kiện sử dụng hàm ý

    1. Câu in đậm “con chỉ được ăn ở nhà bữa này thôi” hàm ý: từ hôm sau con không được ăn ở nhà

    – “Con sẽ ăn ở nhà cụ Nghị thôn Đoài” có hàm ý: U đã bán con cho nhà cụ Nghị thôn Đoài

    Vì phải bán đứa con đứt ruột đẻ ra nên chị Dậu không thể cất lời nói thẳng, chị nói hàm ý để giấu và tránh đi điều đau lòng đó.

    2. Mức độ hàm ý ở câu thứ hai thấp hơn, nghĩa là người nghe có thể hiểu được ý người nói dễ hơn. Tí hiểu được hàm ý trong lời mẹ nói khi “giãy nảy”, “liệng củ khoai vào rổ và òa lên khóc”, “u bán con thật đấy ư?”

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 91 sgk ngữ văn 9 tập 2)

    a, ” Chè đã ngấm rồi đấy” : Người nói là anh thanh niên, người nghe là ông họa sĩ và cô con gái. Hàm ý mời bác vào uống nước.

    b, ” Chúng tôi cần phải bán các thứ này đi để…” Người nói là anh Tấn, người nghe là chị hàng đậu. Hàm ý: Chúng tôi không thể cho những thứ này đi được.

    c, Cả hai câu của Thúy Kiều đều chứa hàm ý, người nghe là Hoạn Thư

    – ” Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!” : Người quyền uy, quý phái như tiểu thư mà cũng có lúc phải tới đây (ý giễu cợt, mỉa mai)

    – ” Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều” : sự cảnh báo trước hình phạt thích đáng cho kẻ cay nghiệt như Hoạn Thư

    – Người nói và người nghe đều hiểu được hàm ý của người nói, chi tiết chứng tỏ:

    a, Ông theo liền anh thanh niên vào trong nhà, đảo nhìn qua một lượt trước khi ngồi xuống ghế

    b, Ôi dào! Thật là càng giàu có càng không dám rời một đồng xu! Càng không dám rời đồng xu lại càng giàu có!

    c, Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu/ Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.

    Câu 2 ( trang 92 sgk ngữ văn 9 tập 2)

    Câu nói ” cơm sôi rồi, nhão bây giờ!” Hàm ý: chắt giùm nước để cơm khỏi nhão

    Bé Thu nói hàm ý vì không chịu gọi ông Sáu là ba, và vì tính cách của bé Thu bướng bỉnh.

    – Việc sử dụng hàm ý trong trường hợp này không hiệu quả vì người nghe không tiếp nhận, từ chối cộng tác bằng cách ” ngồi im” vờ như không nghe thấy.

    Câu 3 (trang 92 sgk ngữ văn 9 tập 2)

    Một số lời nói hàm ẩn cho trường hợp:

    – Tiếc quá, ngày mai tớ có tiết kiểm tra cuối kì

    Câu 4 (Trang 92 sgk ngữ văn 9 tập 2)

    Qua sự so sánh của Lỗ Tấn có thể nhận ra hàm ý: Tuy hi vọng chưa biết thực hư thế nào, nếu cố gắng thực hiện thì có thể đạt được

    Câu 5 (trang 92 sgk ngữ văn 9 tập 2)

    a, Các câu có hàm ý mời mọc:

    + ” Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà. Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc”

    + ” Bọn tớ ca hát từ sáng sớm đến hoàng hôn. Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc.”

    Câu có hàm ý từ chối:

    + ” Mẹ mình đang đợi ở nhà”

    + ” Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà, làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”

    b, Có thể viết thêm câu có hàm ý mời mọc rõ hơn:

    + Có ai muốn chơi cùng bọn tớ không đấy?

    + Chơi với bọn tớ rất tuyệt!

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Trả Bài Tập Làm Văn Số 7 Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2: Giải Câu 1, 2 Trang 92…
  • Bài 5 Trang 33 Sgk Ngữ Văn 9
  • Giải Soạn Bài Các Thành Phần Biệt Lập (Tiếp Theo) Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2
  • Viết Bài Tập Làm Văn Số 7 Ngữ Văn 9 Tập 2 Trang 99, Giải Tất Các Đề
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Truyện
  • Soạn Bài Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ý (Chi Tiết)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Trang 74 Sgk Hóa Học Lớp 10: Hóa Trị Và Số Oxi Hóa
  • Soạn Bài Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ Mới (Chi Tiết)
  • Giải Bài Tập C1: Trang 26 Sgk Vật Lý Lớp 7
  • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng
  • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Phần I PHÂN BỆT NGHĨA TƯỜNG MINH VÀ HÀM Ý Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi (trang 75 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

    – Trời ơi, chỉ còn có năm phút!

    Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay cầm một cái làn. Nhà họa sĩ tặc lười đứng dậy. Cô gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già.

    – Ô! Cô còn quên chiếc mùi soa đây này!

    Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội đi.

    (Theo Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)

    1. Qua câu “Trời ơi, chỉ còn có năm phút!”, em hiểu anh thanh niên muốn nói điều gì? Vì sao anh không nói thẳng điều đó với họa sĩ và cô gái?

    2. Câu nói thứ hai của anh thanh niên có ẩn ý gì không?

    Trả lời:

    1. Qua câu “Trời ơi, chỉ còn có năm phút” ta hiểu anh thanh niên muốn nói thêm rằng “thời gian còn lại là quá ít”. Anh không dùng từ ngữ nói ra điều đó là để che giấu sự “tiếc rẻ” phải chia tay hai người khách:

    2. Câu nói thứ hai không chứa ẩn ý.

    Trả lời:

    a) Câu “Nhà họa sĩ tặc lưỡi đứng dậy”. Cho thấy họa sĩ cũng chưa muốn chia tay anh thanh niên. Đây là cách dùng “hình ảnh” để diễn đạt ý của ngôn ngữ nghệ thuật.

    – mặt đỏ ửng (ngượng);

    – nhận lại chiếc khăn (không tránh được);

    – quay vội đi (quá ngượng).

    Qua các hình ảnh này có thể thấy cô gái đang bối rối đến vụng về vì ngượng. Cô ngượng vì cô định kín đáo để khăn lại làm kỉ vật cho người thanh niên, thế mà người thanh niên lại quá thật thà tưởng là cô bỏ quên, nên gọi cô để trả lại.

    Câu 2 (trang 75 SGK Ngữ văn 9, tập 2): Hãy cho biết hàm ý của câu in đậm trong đoạn trích sau đây:

    Bác lái xe dắt anh ta lại chỗ nhà hội họa và cô gái:

    (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)

    – Vô ăn cơm!

    Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm”. Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra:

    – Cơm chín rồi!

    Anh cũng không quay lại.

    (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)

    Trả lời:

    Câu “Cơm chín rồi!” có chứa hàm ý, đó là “ông vô ăn cơm đi!”.

    Câu 4 (trang 75 SGK Ngữ văn 9, tập 2): Đọc các đoạn trích sau đây (trích từ truyện ngắn Làng của Kim Lân), cho biết những câu in đậm có phải là câu chứa hàm ý không. Vì sao?

    a) Có người hỏi:

    – Sao bảo làng Chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà?..

    – Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy!

    Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười mhạt một tiếng, vươn vai nói to:

    – Hà, nắng gớm, về nào…

    Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cư lên ấy vẫn dõi theo.

    b) – Này, thầy nó ạ.

    Ông Hai nằm rũ ra ở trên giường không nói gì.

    – Thầy nó ngủ rồi à?

    – Gì?

    Ông lão khẽ nhúc nhích.

    – Tôi thấy người ta đồn…

    Ông lão gắt lên:

    – Biết rồi!

    Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi, hiu hắt.

    Trả lời:

    – Những câu in đậm ở đây không chứa hàm ý. Câu in đậm thứ nhất là câu nói lảng (nói sang chuyện khác tránh đề tài đang bàn, còn goi là “đánh trống lảng”).

    – Câu in đậm thứ hai là câu nói dở dang.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Tập Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo) Trang 74 Sgk Văn 9
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Trang 54 Tập 2 Bài 24, 25, 26
  • Giải Bài Tập Trang 54 Sgk Hóa Lớp 9: Dãy Hoạt Động Hóa Học Của Kim Loại Giải Bài Tập Môn Hóa
  • Giải Bài Tập 8: Trang 54 Sgk Vật Lý Lớp 9
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Trang 54 Tập 2 Bài 4.1, 4.2, 4.3
  • Bài 25. Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ý (Tiếp Theo)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ẩn
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 9: Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • GIáO VIÊN: NGUYễN VĂN HUấN

    và các em học sinh về dự giờ học

    nhiệt liệt chào MừNG

    các thầy cô giáo

    Kiểm tra bài cũ:

    Em hãy phân biệt nghĩa tường minh và hàm ý ?

    Nêu một ví dụ về hàm ý?

    – Nghĩa tường minh: là phần thông báo được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu.

    Vì sao chị Dậu không dám nói thẳng với con mà phải dùng hàm ý?

    Trả lời:

    Bán con là điều đau lòng, buồn khổ của người mẹ nên chị Dậu không dám nói thẳng ra mà phải dùng hàm ý.

    Hàm ý trong câu nói nào của chị Dậu rõ hơn? Vì sao chị phải nói rõ như vậy?

    Trả lời:

    Hàm ý trong câu thứ hai rõ hơn.

    Chị Dậu phải nói rõ hơn vì cái Tí không hiểu được hàm ý của câu nói thứ nhất.

    Trả lời:

    Các tình huống nêu ra trong bài 1 đảm bảo điều kiện của việc sử dụng hàm ý vì:

    – Người nói có ý thức đưa hàm ý vào câu nói.

    – Người nghe có năng lực để giải đoán hàm ý.

    Bài 3: Điền vào lượt lời của B trong đoạn thoại sau đây một câu có hàm ý từ chối.

    A: Mai về quê với mình đi !

    B: / ………………………………………………………………..

    A: Đành vậy.

    * Điền: – Mình còn rất nhiều bài tập.

    – Mai mình phải trông nhà.

    – Mình sắp thi rồi.

    – Mình phải đi thăm bà ốm ở bệnh viện.

    Lưu ý:

    – Có thể nêu ra việc phải làm vào ngày mai(nên không thể đi được) như:

    – Mình còn rất nhiều bài tập.

    – Mai mình phải trông nhà.

    – Mình sắp thi rồi.

    – Mình phải đi thăm bà ốm ở bệnh viện…

    – Trước lời mời của người khác, nếu muốn từ chối, ta không nên dùng nghĩa tường minh mà nên sử dụng hàm ý để từ chối một cách khéo léo.

    Bài 4: Tìm hàm ý của Lỗ Tấn qua việc ông so sánh “hy vọng” với “con đường”

    Tôi nghĩ bụng: Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.

    – Hàm ý: Tuy hi vọng chưa thể nói là thực hay hư, nhưng nếu cố gắng thực hiện thì có thể đạt được.

    Bài 5: Tìm câu có hàm ý mời mọc, câu có hàm ý từ chối trong đoạn đối thoại giữa em bé với mây và sóng

    – Câu có hàm ý mời mọc:

    + ” Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà…”

    + ” Bọn tớ ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn…”

    – Câu có hàm ý từ chối:

    + ” Mẹ mình đang ở đợi ở nhà.”

    + ” Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?”.

    * Viết thêm câu có chứa hàm ý mời mọc rõ hơn.

    “Chơi với bọn tớ thích lắm đấy.”

    “Có ai muốn chơi với bọn tớ không?”

    “Các bạn nhỏ mà đi cùng thì thích lắm đấy.”

    Bài tập:

    Em hãy tạo lập một đoạn hội thoại ngắn có sử dụng hàm ý ? Cho biết hàm ý đó là gì?

    Bài làm:

    Tài: – Cậu có thích môn cờ vua không?

    Lộc:- Tớ chỉ thích môn bóng đá thôi.

    Tài: – Vậy à.

    * Hàm ý trong lời nói của Lộc: Tớ không thích môn cờ vua.

    Bài 2: Xác định hàm ý của câu in đậm? Vì sao em bé không nói thẳng được mà phải sử dụng hàm ý? Việc sử dụng hàm ý có thành công không? Vì sao?

    Bài 2:

    Hàm ý: chắt giùm nước để cơm khỏi nhão.

    Em bé dùng hàm ý vì đã có lần nói thẳng rồi mà không hiệu quả. Vả lại lần nói thứ hai này có thêm yếu tố thời gian bức bách để yêu cầu người nghe làm theo ý mình.

    Việc sử dụng hàm ý không thành công vì “Anh Sáu vẫn ngồi im”, tức là tỏ ra không cộng tác.

    Củng cố:

    Điều kiện sử dụng hàm ý

    Hướng dẫn học ở nhà:

    – Hoàn thiện bài tập

    – Học bài; chuẩn bị bài Kiểm tra Văn ( Phần thơ )

    Giờ học kết thúc

    Nó nhìn dáo dác một lúc rồi kêu lên:

    – Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái ! – Nó cũng lại nói trổng.

    Tôi lên tiếng mở đường cho nó:

    – Cháu phải gọi “Ba chắt nước giùm con”, phải nói như vậy.

    Nó như không để ý đến câu nói của tôi, nó lại kêu lên:

    – Cơm sôi rồi nhão bây giờ !

    Anh Sáu vẫn ngồi im […]

    – Hàm ý: chắt giùm nước để cơm khỏi nhão

    B: / ………………………………………………………………….

    A: Đành vậy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Cách Làm Bài Nghị Luận Về Tác Phẩm Truyện (Hoặc Đoạn Trích)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ý (Tiếp Theo)
  • Dàn Ý Phân Tích Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh
  • Soạn Bài Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 5: Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh
  • Soạn Bài Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ẩn

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 9: Lục Vân Tiên Gặp Nạn (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Lập Dàn Ý Phân Tích Nhân Vật Lục Vân Tiên
  • Câu 1: Qua câu “Trời ơi, chỉ còn có năm phút!”, anh thanh niên muốn bày tỏ sự tiếc nuối của mình khi phải chia tay với mọi người. Anh không nói thẳng điều đó với ông họa sĩ và cô gí vì tâm lí ngại ngùng, không muốn thể hiện tình cảm một cách trực tiếp. Đây là câu mang nghĩa hàm ý.

    Câu 2: Câu nói – “Ô! Cô còn quên chiếc mùi xoa đây này!” Không chứa ẩn ý, là câu mang nghĩa tường minh.

    II. Luyện tập Câu 1:

    a. Câu “Nhà hoạ sĩ tặc lưỡi đứng dậy”, cho ta thấy rằng người họa sĩ cũng chưa muốn chia tay với anh thanh niên, cái tặc lưỡi ấy ẩn chứa biết bao sự tiếc nuối.

    b.

    – Thái độ của cô gái được miêu tả qua các từ ngữ: mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn, vội quay đi. Những từ ngữ ấy cho thấy cô gái ngượng ngùng, bối rối.

    – Ý định của cô là để chiếc khăn lại cho anh thanh niên làm kỉ niệm, nhưng anh thanh niên đã không hiểu ý, tưởng cô bỏ quên nên đưa lại trả cho cô làm cô bối rối.

    Câu 2: “Tuổi già cần nước chè: ở Lào Cai đi sớm quá là câu có hàm ý, có thể hiểu là: Ông họa sĩ già rất thích uống nước chè nhưng sáng nay đi sớm chưa kịp uống, anh hãy về chuẩn bị để tiếp khách.

    Câu 3: Câu chứa hàm ý trong đoạn trích: Cơm chín rồi! có nghĩa là bé Thu muốn giục ông Sáu vô ăn cơm nhưng nó cố tình tránh gọi tiếng ba, chỉ nói một cách trống không.

    Câu 4: Đoạn trích có hai câu in đậm mới nghe có vẻ như chứa hàm ý nhưng thực ra không phải.

    – Câu thứ nhất: “Hà, nắng gớm, về nào…” là câu nói lảng, biểu hiện thái độ lảng tránh của ông Hai với đề tài mà mọi người đang nói đến là làng Chợ Dầu theo giặc.

    – Câu thứ hai: “Tôi thấy người ta đồn…” Đây là một câu nói dở dang của bà Hai (vì bị ông Hai ngắt lời)

    Hai câu này không phải là câu mang hàm ý.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 25. Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ý (Tiếp Theo)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Cách Làm Bài Nghị Luận Về Tác Phẩm Truyện (Hoặc Đoạn Trích)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ý (Tiếp Theo)
  • Dàn Ý Phân Tích Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh
  • Soạn Bài Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh
  • Soạn Bài Nghĩa Tường Minh Và Hàm Ý (Tiếp Theo) (Chi Tiết)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Viếng Lăng Bác (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Viếng Lăng Bác
  • Bài 23. Viếng Lăng Bác
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bàn Về Đọc Sách
  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Phần I ĐIỀU KIỆN SỬ DỤNG HÀM Ý Đọc đoạn trích đã cho (trang 90 SGK Ngữ văn 9, tập 2) và trả lời câu hỏi.

    Chị Dậu vừa nói vừa mếu:

    – Thôi u không ăn, để phần cho con. Con chỉ được ăn ở nhà bữa này nữa thôi. U không muốn ăn tranh của con. Con cứ ăn thật no, không phải nhường nhịn cho u.

    Cái Tí chưa hiểu hết ý câu nói của mẹ, nó xám mặt lại và hỏi bằng giọng luống cuống:

    – Vậy thì bữa sau con ăn ở đâu?

    Điểm thêm một “giây” nức nở, chị Dậu ngó con bằng cách xót xa:

    – Con sẽ ăn ở nhà cụ Nghị thôn Đoài.

    Cái Tí nghe nói giãy nảy, giống như sét đánh bên tai, nó liệng củ khoai vào rổ và òa lên khóc:

    – U bán con thật đấy u? Con van u, con lạy u, concòn bé bỏng, u đừng bán con đi, tội nghiệp. U để cho con ở nhà chơi với em con.

    (Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

    1. Nêu hàm ý của những câu in đậm. Vì sao chị Dậu không dám nói thẳng với con mà phải dùng hàm ý? 2. Hàm ý trong câu nói nào của chị Dậu rõ hơn? Vì sao chị Dậu phải nói rõ hơn như vậy? Chi tiết nào trong đoạn trích cho thấy cái Tí đã hiểu hàm ý trong câu nói của mẹ? Trả lời:

    1. Câu nói đầu của chị Dậu có hàm ý “Sau bữa ăn này con không còn được ở nhà với thầy mẹ và các em nữa. Mẹ đã bán con”. Chị Dậu tránh nói thẳng điều này vì đó là một điều quá đỗi đau lòng.

    2. Câu nói sau của chị Dậu có hàm ý là: “Mẹ đã bán con cho nhà cụ Nghị thôn Đoài”. Hàm ý này rõ hơn. Cái Tí không hiểu được hàm ý của câu đầu nhưng đã hiểu hàm ý của câu sau. Sự “giãy nảy” và câu nói trong tiếng khóc của cái Tí “U bán con thật đấy ư?” đã cho thấy em đã hiểu ý mẹ.

    – Báo cáo hết! – Người con trai vụt trở lại giọng vui vẻ. – Năm phút nữa là mười. Còn hai mươi phút thôi. Bác và cô vào trong nhà. Chè đã ngấm rồi đấy.

    Thì giờ ngắn ngủi còn lại thúc giục cả chính người họa sĩ già. Ông theo liền anh thanh niên vào trong nhà, đảo nhìn qua một lượt trước khi ngồi xuống ghế.

    (Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)

    b) –

    (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)

    Trả lời:

    – Hàm ý của câu in đậm là “chắt giùm nước để cơm khỏi nhão”. Bé Thu dùng hàm ý vì đã có lần (trước đó) nói thẳng rồi mà không có hiệu quả, và vì vậy bực mình. Vả lại, lần nói thứ hai này có thêm yếu tố thời gian bức bách (tránh để lâu nhão cơm).

    – Việc sử dụng hàm ý không thành công vì “Anh Sáu cứ vẫn ngồi im, tức là anh tỏ ra không cộng tác (vờ như không nghe, không hiểu).

    B: /…/

    A: Đành vậy.

    Trả lời:

    – Có thể nêu việc làm vào ngày mai (nên không thể đi được), ví dụ: “Bận ôn thi”, “Phải đi thăm người ốm”…

    – Chú ý là phải dùng câu chứa hàm ý “từ chối” theo yêu cầu của đề, không dùng nhừng câu mơ hồ như “Để mình xem đã!”, “Mai hẵng hay!”…

    Câu 4 (trang 92 SGK Ngữ văn 9, tập 2): Tìm hàm ý của Lỗ Tấn qua việc ông so sánh “hi vọng” với “con đường” trong các câu sau:

    Tôi nghĩ bụng: Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.

    (Lỗ Tấn, Cố hương)

    Trả lời:

    Qua sự so sánh của Lỗ Tấn có thể nhận ra hàm ý: Tuy hi vọng chưa thể nói là thực hay hư, nhưng nếu cố gắng thực hiện thì có thể đạt được.

    Câu 5 Câu 5 (trang 92 SGK Ngữ văn 9, tập 2): Tìm những câu có hàm ý mời mọc hoặc từ chối trong các đoạn đối thoại giữa em bé với những người ở trên mây và sóng (trong bài thơ Mây và sóng của Ta-go). Hãy viết thêm vào mỗi đoạn một câu có hàm ý mời mọc rõ hơn. Trả lời:

    – Câu có hàm ý mời mọc là hai câu mở đầu bằng “Bọn tớ chơi…”.

    – Câu có hàm ý từ chối là hai câu “Mẹ mình đang đợi ở nhà” và “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?”.

    – Có thể viết thêm câu có hàm ý mời mọc: “Có muốn chơi với bọn tớ không?”

    – Có thể viết thêm câu có hàm ý từ chối: “Mình phải về nhà với mẹ yêu của mình.”

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Luyện Tập Viết Đoạn Văn Tự Sự Có Sử Dụng Yếu Tố Nghị Luận
  • Soạn Văn 9 Siêu Ngắn: Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Người Kể Trong Văn Bản Tự Sự
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự Năm 2022
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7: Ý Nghĩa Của Văn Chương

    --- Bài mới hơn ---

  • ✅ Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Soạn Bài Ý Nghĩa Văn Chương (Ngắn Gọn)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Đề Văn Nghị Luận Và Việc Lập Ý Cho Bài Văn Nghị Luận
  • Giải Vở Bài Tập Địa Lý 7 Bài 39
  • Bài 50: Hệ Sinh Thái
  • Giải vở bài tập Ngữ văn 7 Tập 2

    Giải Vở BT Ngữ văn 7: Ý nghĩa của văn chương

    Câu 1 (trang 64 VBT Ngữ văn 7): Câu 1, trang 62 SGK Ngữ văn 7

    Trả lời:

    a. Theo Hoài Thanh, nguồn gốc cốt yếu của văn chương là: tình cảm, lòng vị tha.

    b. Ngoài cái mà Hoài Thanh gọi là nguồn gốc cốt yếu đó, Hoài Thanh cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa văn chương và sự sống, không có văn chương thì cũng không có hình dung về sự sống.

    Câu 2 (trang 64 VBT Ngữ văn 7):

    Hãy nêu lên quan niệm của Hoài Thanh về mối liên hệ giữa văn chương và sự sống. Nên hiểu từ “sự sống” trong cụm từ “sáng tạo ra sự sống” như thế nào? Trả lời:

    a. Hoài Thanh đã thấy được mối quan hệ hai chiều giữa văn chương và sự sống.

    – Một mặt, văn chương là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng.

    – Mặt khác, văn chương lại có thể sáng tạo ra sự sống.

    b. Nên hiểu từ “sự sống” trong cụm từ “sáng tạo ra sự sống” theo hai bình diện:

    – Bình diện cuộc sống cụ thể: văn chương không thể sáng tạo ra được bản thân đời sống vật chất, tuy nhiên văn chương tái hiện lại đời sống ấy, tái tạo nó theo một cách mới.

    – Bình diện cuộc sống tinh thần: văn chương khơi gợi cảm xúc, tình cảm.

    Chính cuộc sống ở bình diện thứ hai là điều Hoài Thanh trình bày trong phần tiếp theo.

    Câu 3 (trang 65 VBT Ngữ văn 7): Câu 3, trang 62 SGK Ngữ văn 7

    Trả lời:

    a. Nếu nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm, lòng vị tha thì công dụng của văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha.

    b. Đó là một công dụng mang tính chất định hướng, thẩm mĩ.

    Câu 4 (trang 65 VBT Ngữ văn 7): Câu 4, trang 63 SGK Ngữ văn 7 tập 2

    Trả lời:

    Ý kiến sau đây là đúng, nói lên được đặc điểm ở văn nghị luận của Hoài Thanh: Vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc, hình ảnh.

    Câu 5 (trang 65 VBT Ngữ văn 7): Bài luyện tập, trang 63 SGK Ngữ văn 7

    Trả lời:

    – Văn chương giúp cho thế hệ trẻ hôm nay đau buồn trước sự hi sinh của những thế hệ cha anh trong thời kì kháng chiến gian khổ, đồng thời thấy tự hào trước tinh thần chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc qua những tác phẩm như: Đồng chí (Chính Hữu); Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật),…

    – Văn chương khiến ta yêu những mảnh đất ta chưa từng đến, những con người ta chưa hề và chẳng thể gặp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Bài 11: Tiến Hóa Của Hệ Vận Động
  • Giải Bài Tập Sbt Sinh Học 8 Bài 7
  • Giải Bài Tập Vbt Vật Lý Lớp 8 Bài 7: Áp Suất
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 8 Bài 1: Tính Thống Nhất Về Chủ Đề Của Văn Bản
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Ý Nghĩa Của Văn Chương

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 7: Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • ✅ Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Soạn Bài Ý Nghĩa Văn Chương (Ngắn Gọn)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Đề Văn Nghị Luận Và Việc Lập Ý Cho Bài Văn Nghị Luận
  • Giải Vở Bài Tập Địa Lý 7 Bài 39
  • Ý nghĩa của văn chương

    Câu 1 (trang 64 VBT): Câu 1, trang 62 SGK Trả lời:

    a. Theo Hoài Thanh, nguồn gốc cốt yếu của văn chương là: tình cảm, lòng vị tha.

    b. Ngoài cái mà Hoài Thanh gọi là nguồn gốc cốt yếu đó, Hoài Thanh cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa văn chương và sự sống, không có văn chương thì cũng không có hình dung về sự sống.

    Câu 2 (trang 64 VBT): Hãy nêu lên quan niệm của Hoài Thanh về mối liên hệ giữa văn chương và sự sống. Nên hiểu từ “sự sống” trong cụm từ “sáng tạo ra sự sống” như thế nào? Trả lời:

    a. Hoài Thanh đã thấy được mối quan hệ hai chiều giữa văn chương và sự sống.

    – Một mặt, văn chương là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng.

    – Mặt khác, văn chương lại có thể sáng tạo ra sự sống.

    b. Nên hiểu từ “sự sống” trong cụm từ “sáng tạo ra sự sống” theo hai bình diện:

    – Bình diện cuộc sống cụ thể: văn chương không thể sáng tạo ra được bản thân đời sống vật chất, tuy nhiên văn chương tái hiện lại đời sống ấy, tái tạo nó theo một cách mới.

    – Bình diện cuộc sống tinh thần: văn chương khơi gợi cảm xúc, tình cảm.

    Chính cuộc sống ở bình diện thứ hai là điều Hoài Thanh trình bày trong phần tiếp theo.

    Câu 3 (trang 65 VBT): Câu 3, trang 62 SGK Trả lời:

    a. Nếu nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm, lòng vị tha thì công dụng của văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha.

    b. Đó là một công dụng mang tính chất định hướng, thẩm mĩ.

    Câu 4 (trang 65 VBT): Câu 4, trang 63 SGK Trả lời:

    Ý kiến sau đây là đúng, nói lên được đặc điểm ở văn nghị luận của Hoài Thanh: Vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc, hình ảnh.

    Câu 5 (trang 65 VBT): Bài luyện tập, trang 63 SGK Trả lời:

    – Văn chương giúp cho thế hệ trẻ hôm nay đau buồn trước sự hi sinh của những thế hệ cha anh trong thời kì kháng chiến gian khổ, đồng thời thấy tự hào trước tinh thần chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc qua những tác phẩm như: Đồng chí (Chính Hữu); Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật),…

    – Văn chương khiến ta yêu những mảnh đất ta chưa từng đến, những con người ta chưa hề và chẳng thể gặp.

    Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 7 (VBT Ngữ Văn 7) khác:

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 11: Tiến Hóa Của Hệ Vận Động
  • Giải Bài Tập Sbt Sinh Học 8 Bài 7
  • Giải Bài Tập Vbt Vật Lý Lớp 8 Bài 7: Áp Suất
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 8 Bài 1: Tính Thống Nhất Về Chủ Đề Của Văn Bản
  • Giải Sách Bài Tập Toán Lớp 6 Trọn Bộ
  • Ý Nghĩa Quy Y Và Thọ Ngũ Giới Cấm (Thích Thiện Minh)

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Y Tam Bảo Là Gì
  • Giải Mã Ý Nghĩa Số Điện Thoại Đơn Giản Và Chính Xác
  • Những Ý Nghĩa Biển Số Xe Theo Phong Thủy Bạn Nên Biết
  • Ý Nghĩa Biển Số Xe Theo Phong Thuỷ? Cách Xem Biển Số Xe Và Chọn Biển Số Phong Thuỷ?
  • “Giải Mã” Ý Nghĩa Tên Bạn Trong Tình Yêu
  • Ý NGHĨA QUY Y VÀ THỌ NGŨ GIỚI CẤM

    * Đại đức Thiện Minh                                                     

    Quy y có vào thời kỳ Đức Phật Thích Ca. Người quy y đầu tiên là cha mẹ của trưởng lão Yassa là một người giàu có.  Ngài Yassa một hôm thức giấc nhìn thấy nhiều người phục vụ nằm ngủ la liệt, trong đó có người mở mắt, người nhắm mắt, người chảy nước dãi, người ngáy, người rên. Hình ảnh không mấy gì đẹp đẽ ấy làm cho Yassa nhàm chán, buồn bã bỏ đi, nhưng thực sự không biết đi đâu. Một hôm, ngài đi ra khỏi nhà. Đức Phật thấy duyên lành của ngài Yassa bèn phóng hào quang đưa Yassa đến gặp Đức Phật, liền sau đó Yassa nghe phật giảng pháp và hoan hỷ xuất gia, không bao lâu đã chứng đạo giác ngộ. Sáng hôm sau, cha mẹ và 54 người bạn của Yassa biết ngài mất tích nên cùng nhau đi tìm. Họ đến gặp Đức Phật, nghe Đức Phật thuyết bài Pháp xong liền phát tâm quy y Tam bảo. Phật nói: “Ông bà quy y xong sẽ tìm thấy con!”. Đó là hai người đầu tiên quy y Tam Bảo. Trước kia, có hai thanh niên lái buôn ở Miến Điện cũng đã quy y theo Pháp nhị bảo tức là quy y Phật, quy y Pháp. Lúc bấy giờ chưa có giáo hội Tăng già nên chỉ có nhị bảo.

     

    Vậy quy y Tam Bảo là gì?

     

    Tam là ba, quy là trở về, quy y Tam bảo là trở về nương tựa ba ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Nghi thức quy y: phải có những lễ phẩm như đèn hoa, trái cây, tâm thành kính lễ bái sư. Nơi quy y: có thể là một ngôi chùa, có thể là tư gia. Chùa là nơi quy y hợp lý hơn. Nên hôm nay quý Phật tử đến thiền viện Bồ Đề để quy y và chọn vị thầy bổn sư là người hướng dẫn cho mình quy y để học đạo, hiểu biết chánh pháp. Khi đã quy y  rồi thì nên biết rằng chùa nào cũng là chùa chung cho mọi người tu tập. Vị Sư là ngón tay chỉ cho quý vị thấy mặt trăng. Vị sư không phải mặt trăng. Do đó quý vị nên tự mình thưởng thức vẻ đẹp của mặt trăng, nó tròn sáng, lung linh, huyền ảo hay rực rỡ như thế nào chứ đừng ngắm ngón tay dài hay ngắn, đẹp hay xấu, có ghẻ hay không có ghẻ.

     

    Quy y Phật pháp là nương vào Tam bảo để tu tập. Cổ nhân có câu: ‘’Y pháp bất y nhơn’’. Tức là dựa vào pháp để tu sửa tâm tính, không dựa vào con người nhất định nào. Đối tượng quy y là quy y Phật, Pháp, Tăng.

     

    Tại sao quy y Phật?  Quy y Phật vì Phật là một người đã giác ngộ thực sự thấy được chân lý. Chân lý và lời giải của ngài có thể giúp chúng ta hết khổ. Ta có thể tự hào Đức Phật là một vị vua đã giác ngộ. Suốt cuộc đời Ngài phục vụ cho chúng sanh. Từ địa vị là một ông vua, Ngài cắt ngang tình yêu mãnh liệt của phụ hoàng, gỡ cánh tay bám víu của hiền thê, rời bỏ đứa con thơ mới mở mắt chào đời còn nằm bên lòng mẹ. Con người anh hùng chí khí đó đã ra đi với tất cả ý nghĩa của sự thoát ly mà sự thoát ly đó vẫn còn vang dội cho đến ngày hôm nay. Tất cả chúng ta ngồi đây là chịu ảnh hưởng của sự xuất gia thoát ly của Đức Phật.

     

    Cách đây 10 năm chúng tôi sống trong Giáo hội Tăng già ở Anh Quốc. Hằng ngày nhìn  những vị thầy, những vị sư người Âu Mỹ, mũi cao, da trắng, xinh đẹp – những người đã rời bỏ tất cả danh vọng, tài sản, tình yêu, gia đình, vợ chồng, con cái, ngũ dục thế gian để khoác áo cà sa, tướng hảo quang minh, mỗi ngày tinh tấn lạy Phật, tham thiền …chúng tôi đã rớt nước mắt. Bởi hình ảnh đó quá đẹp, quá thánh thiện. Và chúng tôi thấy Phật rất vĩ đại bởi giáo Pháp của Ngài qua hàng ngàn năm vẫn còn sống mãi.

     

    Tại sao Quy y Pháp? Quy y Pháp vì giáo Pháp của Đức Phật có khả năng giúp ta bớt khổ, thực tập lời dạy của Ngài giúp ta giải thoát được phiền não. Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy số 8 có trích đăng thông điệp của Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon gởi cho đại lễ Phật Đản Vesak trên thế giới: ‘’ Đức Phật, sự Đản sinh, Thành đạo và nhập Niết bàn của Ngài được chúng ta kỷ niệm mỗi năm vào ngày  rằm tháng tư Vesak, đã để lại cho nhân loại kho tàng giáo lý rộng sâu và kho tàng giáo lý ấy có thể định hướng cho những nổ lực giải quyết các vấn đề nghiêm trọng mà chúng ta đang phải đối mặt trong thế giới ngày nay.

     

    Lời huấn thị của Ngài chống lại ba thứ độc hại, đó là Tham lam, Sân hận và Si mê. Lời huấn thị ấy có thể khơi dậy những cuộc hội đàm đa phương về sự đói kém đang ảnh hưởng đến gần một tỷ người trong thế giới giàu có của chúng ta, về sự bạo lực đầy thú tính, cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người mỗi năm, và về sự tàn phá môi trường một cách vô tội vạ, gây nguy hại cho ngôi nhà duy nhất của chúng ta, là trái đất mà chúng ta đang sinh sống.’’

    Chúng ta thấy Đức Phật và giáo pháp của ngài quá vĩ đại. Lời dạy của Phật có thông điệp chuyển tải tinh thần từ bi quá lớn cho nhân loại, phát huy trí tuệ từ bi chánh kiến cho nhân loại. Giáo Pháp của ngài là văn hóa lớn cho nhân loại, là tinh thần bất bạo động nên Hội Đồng IOC hằng năm tổ chức Lễ Vesak Tam Hợp trên thế giới quy tụ các truyền thống Phật giáo đến tham dự. Pháp có hai, Pháp học và pháp hành, nên chúng ta Quy y Pháp  là quy y Pháp học và quy y Pháp hành. Pháp học là có 84 ngàn pháp môn, những khuôn vàng thước ngọc của phật thuyết giảng trong suốt 45 năm. Pháp hành là tinh hoa lời phật dạy, người hành theo có khả năng giác ngộ, chấm dứt khổ đau, giác ngộ giải thoát, không còn sanh tử luân hồi.

     

    Tại sao Quy y Tăng? Tăng tiếng Pali gọi là Sangha, nghĩa là đoàn thể tăng già, đệ tử của đức Phật. Tăng có hai hạng Thánh tăng và Phàm tăng. Thánh tăng là những vị đã chứng  đắc quả vị từ Tu Đà huờn đến Ala hán. Phàm Tăng là những vị đang tập tành tu học để đạt đến đạo quả giải thoát. Các ngài vừa tu vừa hướng dẫn bá tánh đi theo đúng con đường giác ngộ của Chư phật, hình ảnh của các ngài là mô phạm quần sanh, là phước điền của chư thiên và nhân loại. Do đó quy y tăng là để khẳng định niềm tin của chúng ta với phật pháp trong kiếp này, từ đó tiếp tục tu hành đúng chơn lý dưới sự hướng dẫn của hàng xứ giả Như lai, đó là nhân tố tốt để gặp phật trong tương lai.

                             

    LỢI ÍCH CỦA QUY Y

     

         Người nào quy y Phật, lạy Phật, tán dương đức Phật thì có phước báu lớn. Có phước lớn thì có thể có địa vị cao trong xã hội ví dụ như làm chủ tịch, giám đốc. Nếu đi tu thì làm pháp chủ, làm trụ trì, làm tăng thống.

     

    Quy y Pháp, lạy Pháp, cúng dường Pháp Bảo, ấn tống kinh sách thì có phước trí tuệ. Cho nên người nào thấy mình không sáng suốt, học ít thì ráng ấn tống kinh sách băng giảng cho nhiều để được phước trí tuệ.

     

         Quy y Tăng thì có phước giàu sang bởi Tăng là phước điền của chúng sanh. Vì sao? Vì quy y Tăng chúng ta gần gũi học phật pháp và bố thí, mà bố thí là nguyên nhân phát sanh phước giàu sang.

     

    Thời đức Phật còn tại thế, có ông Cấp cô Độc sau khi quy y Phật đã tìm đất cúng cho Phật làm chùa. Ông cúng chừng hai ba chục mẫu để xây dựng Kỳ Viên Tịnh Xá. Mỗi ngày ông thỉnh 500 vị sư để bố thí, cúng dường đến nỗi chư thiên ở trong nhà ông ganh tỵ vì họ có tâm bỏn xẻn. Có vị chư thiên đã khuyên ông Cấp cô Độc thôi đừng làm phước nhiều quá tài sản dễ bị cạn kiệt. Nhưng ông Cấp cô Độc lúc bấy giờ đã chứng quả Tu Đà Hườn bèn nói: “ Tôi có tâm thí mà ông không đồng tâm với tôi thì ông làm ơn đi ra khỏi nhà tôi”. Vị chư thiên bị đuổi ra khỏi nhà ông Cấp Cô Độc bèn lang thang gặp vua trời Đế Thích van xin,  nói hộ ông Cấp cô Độc dùm và xin cho được ở lại trong nhà ông. Vua trời Đế Thích nói với vị chư thiên này rằng:  ‘’ Tội nhà ngươi đáng chết, dám xúc phạm với vị thánh đệ tử phật, thôi thì tôi có lời khuyên: Ông hãy dùng thần thông thu gom tài sản lại cho ông Cấp cô Độc đã thất thoát nhiều năm bởi động đất, mưa bão v.v… nay đã trôi ra biển cả, sông ngòi. Thu gom về đem để vào kho của Ông Cấp Cô Độc. Làm xong việc đó, ông về xin sám hối và có thể ông hoan hỷ cho ở lại tiếp. Vị chư thiên làm đúng như lời Vua trời Đế Thích dặn nên có hiệu quả, vị chư thiên hoan hỷ quá.’’.

     

    Vậy nên bố thí hợp đạo, phước sẽ tăng trưởng. Người có quy y Tam bảo, tà ma không bao giờ dám quấy nhiễu, bùa ngãi không bao giờ làm tổn hại được. Người quy y đọc nhiều lần câu: Con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng thì không tà ma nào xâm hại được.

     

    Thế nào là đứt quy y?

     

    Có hai trường hợp đứt quy y, bỏ phật giáo theo một tôn giáo khác, hai khi thân hoại mạng chung. Trường hợp thứ nhất mong rằng Phật tử ta không nên làm, vì bỏ tôn giáo mình theo một tôn giáo khác là một điều trái đạo lý luân thường, tâm không chung thủy, biết ơn. Làm người vong ơn như thế thì nghiệp chướng nặng nề. Tuy nhiên vì hoàn cảnh bắt buộc chúng ta phải bị theo một tôn giáo khác thì nhớ rằng phật tại tâm, làm lành lánh dữ, giữ tâm ý trong sạch, đó cũng là quy y đúng nghĩa. Trường hợp thứ  hai là lẽ thường tình thế gian, khi chết là đứt Tam quy. Tuy nhiên theo Phật giáo, chết là sự thay đổi kiếp sống, đổi từ hình thức này sang hình thức khác, tùy thuộc tâm thiện ác và nghiệp lực của chúng ta. Nếu người làm thiện thì sự thay đổi nhàn cảnh, người làm ác thay đổi khổ cảnh. Người có quy y, lúc chết đứt quy y, nhờ phước quy y nên sanh nhàn cảnh, ở đó họ lại tiếp tục  gặp phật pháp và quy y

     

    Thế nào là bợn nhơ quy y?

     

    Qúy vị đã quy y Phật, Pháp, Tăng, tin lý nhân quả nghiệp báo nhưng vì tham lam lại lễ bái những  thần linh khác, cầu nguyện van xin những vị thần khác gia hộ ngoài Phật Thích Ca, ngoài Tăng đoàn như thế gọi là bợn nhơ quy y. Bợn nhơ là tâm bị cấu uế bởi đối tượng thần quyền ngoài tam bảo, mang tính cách phi nhân bản, xa lìa nhân quả, dị đoan v.v… đặc biệt là không chánh kiến. Đức phật dạy: người không chánh kiến luân hồi sẽ vô cùng vô tận.

     

    Cho nên hạnh phúc hay đau khổ là do chính mình.Tội hay phước là do tâm mình tạo, chỉ có tâm ta thiện hay bất thiện, chỉ có tâm ta vị tha hay ích kỷ.

     

     

    NGŨ GIỚI

     

         Tiếng Phạn là PANCA SILA, ngũ giới là nền tảng của phật giáo, là căn bản đạo đức của con người. Đức phật dạy, có bốn châu thiên hạ, chúng ta đang sống ở Nam thiện bộ châu, tuổi thọ 100 tuổi, còn người ở xứ Bắc cu lưu châu con người sống 1000 tuổi, ngũ giới thì tự nhiên, tức là ai sanh vào xứ này cũng đều có giữ ngũ giới, nên thân hoại mạng chung sanh nhàn cảnh. Ngũ giới là 5 điều phật cấm không được phạm, đó là: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.

     

    Trước nhất không sát sanh là người phật tử thậm chí không được giết con vật dù nhỏ xíu, vì không giết để huân tập lòng từ bi và gieo chủng tử giải thoát. Ngược lại chúng ta sẽ sa đọa và yểu thọ. 

     

    Thực tế, chúng tôi có quên một gia đình ở dưới quê có một người phụ nữ làm quản lý khu du lịch sinh thái . Bà ta điều hành một nhà hàng, vì vậy do lợi nhuận, hàng ngày phải sát mạng chúng sanh rất nhiều. Một hôm, bà ta bị nhồi máu cơ tim chết lúc mới 50 tuổi. Người chồng thương tiếc khóc lóc thảm thương. Chúng tôi nghiệm ra một điều là do bà ta sát sanh, hại vật quá nhiều cho nên oán nghiệp chồng chất đến rất nhanh và phải chết bất đắc kỳ tử.

     

    Thông thường, con người ta sống từ 1 đến 59 tuổi mà chết thì gọi là yểu thọ. Trên bia mộ thường ghi là hưởng dương. Còn trên 60 tuổi mà chết thì ghi là hưởng thọ. Nên người sống đến 80 tuổi thì rất quý.

     

    Vậy, giữ giới sát sanh thì sống trường thọ. Ở đất nước Ấn Độ người ta có truyền thống chúc nhau: Chúc cho gia đình bạn, ông chết, cha chết rồi đến con chết. Đó là một điều may mắn. Vì nếu như ông phải khóc cháu, cha phải khóc con thì đó là sự bất hạnh của gia đình.

     

         Người giữ giới không trộm cắp (không lấy của người ta không cho) thì được nhiều tài sản, có tài sản cũng không bị người ta lấy cắp. Trong thực tế có nhiều người bị bệnh ăn cắp vặt, thấy cái gì thích là lấy bỏ túi. Đó là một thói quen xấu. Người trộm cắp sau này không có của cải. Nếu có thì hay bị mất cắp.

     

         Giữ giới không tà dâm (sống chung thủy một chồng một vợ) không hành động, gần gũi với người khác phái mà xã hội cấm, cha mẹ cấm, anh em cấm thì sẽ không khổ đau về tình yêu, không bất hạnh về tình cảm, luôn được hạnh phúc trong hôn nhân, gia đình. Tất cả đều do phước báu của chúng ta mà ra.

     

    Giữ giới không nói dối, tức người phật tử phải nói lời chân chánh. Song song với việc không nói dối, chúng ta còn không nói đâm thọc, không nói lời hai lưỡi, không nói lời độc ác. Tóm lại người giữ được giới này sẽ có uy tính trong xã hội, bạn bè quý mến, gia đình hạnh phúc, xã hội bình an. Quả báo người giữ giới này sẽ có quyền lực cao, địa vị lớn trong xã hội.

     

    Giữ giới không uống rượu và các chất say là một điều cấm kị trong nhà phật. Như vậy rượu đã cấm, bia cũng không được uống và những chất say người phật tử chân chánh cũng không được phép. Tại sao đức Phật cấm điều luật này? Vì ngài nhận thấy rằng rượu và chất say có nguy cơ làm băng hoại thân này, gia đình không hạnh phúc, xã hội không thanh nhàn. Điều đáng lưu ý hơn rượu bia nhiều quá, khi sanh con tỷ lệ thông minh của chúng kém. Chất say có công năng làm hiện tại và tương lai của chúng ta ù lì, kém thông thái và có nguy cơ dẫn đến thần kinh, đến chừng đó bản thân chúng ta khổ và những người xung quanh lại càng khổ hơn. Nên tôn trọng tất cả, chúng ta cố gắng giữ điều học này.

     

    LỢI ÍCH KHI GIỮ NGŨ GIỚI

     

    Trong Tăng chi bộ kinh, đức Phật dạy có những lợi ích của người giữ học giới như sau:

    1)    Dạn dĩ, tự tin khi đi vào đám đông

    2)    Ngủ cũng được an vui

    3)    Thức cũng được an vui

    4)    Tâm không bấn loạn lúc hấp hối

    5)    Sau khi thân hoại mệnh chung, sanh làm chư thiên.

     

    Quả báo của người giữ giới, sẽ có đầy đủ tứ chi, trong gia đình quyền lực giàu có, đạo đức, mới sanh ra là được hưởng phước liền. Qúy vị biết khi thọ trì giữ giới chư tăng thường tụng đọc:  Các chúng sanh được sanh về cõi trời cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh được giàu sang cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh giải thoát nhập Niết bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy, nên quý thiện tín, phải ráng thọ trì giới luật cho được trong sạch, đừng có lấm nhơ’’ .

     

    Giàu sang ở đây muốn nói biết đủ là giàu sang. Người biết đạo luôn sống không hoang phí.

     

    Hôm nay quý Phật tử đã quy y Tam Bảo. Xin tán dương công đức đến chín Phật tử đã phát tâm trong sạch, hoan hỷ quay trở về nương tựa tam bảo. Khi biết ý nghĩa của quy y và thọ pháp ngũ giới rồi, Sư tin quý vị càng hoan hỷ hơn. Chúc quý vị an lạc trong chánh pháp và luôn gặp được may mắn trong cuộc sống.

     

         (Thích Nữ Quang Duyên ghi chép)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam
  • ‘Lương Y Như Từ Mẫu’ Có Còn Đúng Trong Xã Hội Hiện Đại?
  • “Lương Y Như Từ Mẫu”
  • Học Văn Để Làm Người
  • Top 4 Cuốn Sách Giải Phẫu Hay Nhất Hiện Nay
  • ✅ Ý Nghĩa Văn Chương

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Nghĩa Một Lá Bài Tarot
  • Cách Giải Nghĩa Các Lá Bài Tarot Ngược Trong Bói Toán
  • Sách Dạy Đọc Tarot 21 Cách Giải Nghĩa Lá Bài Tarot Số 1
  • Giải Nghĩa Lá Bài Tarot Ngược
  • 21 Cách Giải Nghĩa Lá Bài Tarot
  • Đề bài: Phân tích bài Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh

    Bài làm

    Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên (1909 – 1982), quê ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông là một nhà phê bình văn học xuất sắc. Năm 2000, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa – nghệ thuật. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn Thi nhân Việt Nam, in năm 1942. Bài Ý nghĩacủa văn chương sau này in lại đã đổi tự đề thành Ý nghĩa và công dụng của văn chương.

    Với một lối văn nghị luận kết hợp hài hòa giữa lí lẽ sắc bén với cảm xúc tinh tế, trong văn bản này, Hoài Thanh khẳng định : Nguồn gốc cốt yếu của văm chương là tình cảm, là lòng vị tha. Văn chương là tấm gương phản ánh cuộc sống muôn hình vạn trạng. Hơn thế, văn chương còn góp phần sáng tạo ra sự sống, gây dựng cho con người những tình cảm không có và luyện những tình cảm sẵn có. Đời sống tinh thần của nhân loại nếu thiếu văn chương thì sẽ rất nghèo nàn, tẻ nhạt.

    Quan niệm đúng đắn đó thể hiện trình độ hiểu biết sâu sắc cùng thái độ yêu quý, trân trọng của tác giả dành cho văn chương.

    Bố cục bài văn có thể chia thành hai phần. Phần một : Từ đầu đến… gợi lòng vị tha: Để cập đến nguồn gốc cốt yếu của văn chương. Phần còn lại: Bàn về vai trò quan trọng và công dụng to lớn của văn chương.

    Trước khi phân tích bài văn, chúng ta nên tìm hiểu khái niệm văn chương. Vậy thế nào là văn chương ?

    Học giả Phan Kế Bính đã định nghĩa ngắn gọn rằng: Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Nhời (lời) của người ta, rực rỡ bóng bẩy, tựa như có vẻ đẹp vẻ sáng, cho nên gọi là văn chương…

    Theo cách hiểu trước đây thì văn chương nghĩa rộng bao gồm cả triết học, sử học, văn học… Nghĩa hẹp dùng để gọi các tác phẩm văn học, nghĩa hẹp hơn nữa là tính nghệ thuật, vẻ đẹp của câu văn, lời thơ… Trong văn bản này, thuật ngữ văn chương được dùng theo nghĩa hẹp.

    Hoài Thanh giải thích nguồn gốc của văn chương bắt đầu bằng một giai thoại hoang đường:

    Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim cùng hòa một nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, nhận đau thương ấy chinh là nguồn gốc thi ca.

    Cách mở bài độc đáo như trên đã thu hút sự chú ý của người đọc. Tác giả mượn câu chuyện này để cắt nghĩa nguồn gốc của văn chương. Văn chương thực sự chỉ xuất hiện khi người cầm bút có cảm xúc mãnh liệt trước một tình cảnh hay hiện tượng nào đó trong cuộc sống.

    Tác giả kết luận: Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài. Theo ông thì lòng nhân ái bao la chính là nguồn gốc của văn chương.

    Đây là lời nhận xét rất đúng đắn. Tuy vậy, bên cạnh nó còn có những quan điểm khác nhau như văn chương bắt nguồn từ cuộc sống lao động của con người hoặc văn chương là nghệ thuật của ngôn từ cuộc sống lao động của con người hoặc văn chương là nghệ thuật của ngôn từ… Các quan niệm này tuy khác nhau nhưng không loại trừ nhau. Ngược lại, chúng bổ sung cho nhau về mặt ý nghĩa.

    Để làm rõ hơn nguồn gốc văn chương, Hoài Thanh tiếp tục đưa ra nhận định về vai trò của tình cảm trong sáng tạo của văn chương.

    Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống.

    Vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn chương đều là tình cảm, lòng vị tha.

    Ở câu thứ nhất tác giả nhấn mạnh: cuộc sống vốn dĩ thiên hình vạn trạng, văn chương có nhiệm vụ phản ánh cuộc sống theo đúng quy luật tự nhiên của nó. Văn chương thậm chí góp phần sáng tạo ra cuộc sống, làm cho đời sống ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.

    Ở câu thứ hai, ông khẳng định : Văn chương sáng tạo nên những hình ảnh, những ý tưởng mới lạ, tiến bộ mà trong cuộc sống hiện tại chưa có, để mọi người phấn đấu, biến ý tưởng đó thành hiện thực.

    Thực tế cho thấy sự sáng tạo văn chương bắt nguồn từ cảm xúc yêu thương chân thành của nhà văn, nhà thơ. Thông qua văn chương, các tác giả giúp người đọc nhận thức được nhiều điều bổ ích về cuộc sống trong quá khứ cũng như hiện tại. Đọc ca dao, tục ngữ hay thần thoại, cổ tích, chúng ta hình dung được tổ tiên xưa kia sinh sống ra sao trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Những ước mơ, khát vọng chinh phục thiên nhiên ; những bài học về đạo lí và kinh nghiệm sống ở đời được gần gũi qua các loại hình văn học cư thấm dần vào máu thịt, tạo nên đời sống tinh thần phong phú cho mỗi con người.

    Văn chương hướng con người tới Chân, Thiện, Mĩ của cuộc đời. Vì vậy nó là món ăn tinh thần không thể thiếu, giúp con người hoàn thiện nhân cách để trở nên hữu ích hơn đối với gia đình và xã hội.

    Cách đây hàng trăm năm, ông cha ta đã có câu tục ngữ : Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Nguồn gốc của câu tục ngữ trên cũng xuất phát từ lòng nhân ái, từ mục đích muốn con người có cách ăn nói sao cho đúng, cho hay; có cách ứng xử với nhua tốt đẹp hơn.

    Câu ca dao: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra được lưu truyền tuef đời này sang đời khác, mãi mãi như một lời nhắc nhở con cái phải hiếu thảo với cha mẹ. Vì bổn phận, trách nhiệm và lòng hiếu thảo là thước đo phẩm chất đạo đức của con người.

    Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có biết bao tiếng há, lời ru, câu chuyện… khuyên nhủ mọi người hãy xây dựng tình cảm gia đình đầm ấm, thuận hòa. Một trong những lời khuyên đó là:

    Anh em như chân với tay, Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    Cuộc sống lao động chân lấm tay bùn của người nông dân xưa kia trở nên đẹp đẽ, thơ mộng biết bao trước cái nhìn yêu thương trìu mến đối với con người và thiên nhiên chốn quê nhà:

    Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

    Chỉ bằng hai dòng thơ nhưng tác giả dân gian đã vẽ nên bức tranh sinh hoạt tuyệt đẹp, đó là cảnh thôn nữ tát nước đêm trăng. Ánh trăng tràn ngập khắp nơi, sóng sánh trong từng gàu nước, Một gàu nước là một gàu trăng. Cô gái múc nước mà như múc ánh trăng vàng. Sự liên tưởng độc đáo đã tạo ra hình ảnh đẹp đẽ và thơ mộng. Câu hỏi tu từ đầy tính nghệ thuật cũng là cách tỏ tình vô cùng tinh tế của người xưa.

    Để ca ngợi vẻ đẹp của làng quê và phẩm chất cao quý của dân quê, ca dao có bài:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Bài ca dao ca ngợi vẻ đẹp của hoa sen. Hoa sen thường mọc trong đầm lầy và trong đầm không hoa nào đẹp bằng sen. Sen là loài hoa hương sắc ven toàn. Không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của hoa sen, bài ca dao còn ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người lao động, dẫu sống gần bùn mà vẫn giữu được phẩm chất thanh cao, trong sạch. Lòng yêu quê hương tha thiết của người xưa được thể hiện rất rõ qua bài ca dao này:

    Bàn về sự hấp dẫn đặc biệt và công dụng to lớn của văn chương, Hoài Thanh viết: … Một người hằng ngày chỉ cặm cụi lo lắng vì mình, thế mà khi xem truyện hay ngâm thơ có thể vui, buồn, mừng, giận cùng những người ở đâu đâu, vì những câu chuyện ở đâu đâu, há chẳng phải là chứng cớ cho cái mãnh lực lạ lùng của văn chương hay sao ?

    Đúng vậy ! Văn chương khơi dậy những cảm xúc cao thượng của con người. Đọc truyện Kiều của Nguyễn Du, bao thế hệ người đọc say mê và vui buồn cungd nhân vật Thúy Kiều. Họ căm giận bọn WngKhuyeenr, Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám sinh bao nhiêu thì thương xót cho số phạn nàng Kiều bấy nhiêu và càng ghê tởm cái xã hội tôn thờ đồng tiền : Trong tay đã sắn đồng tiền, Dẫu lòng đổi trắng thay đen, Khó gì ! Đọc bài văn Cổng trường mở ra của Lí Lan, người đọc hiểu thêm tình thương yêu của mẹ đối với đứa con ; hiểu thêm về vai trò quan trọng của nhà trường đối với mỗi con người. Đọc bài thơ Tình dạ tứ của Lí Bạch, ta càng thấm thía tình quê hương sâu nặng của kiếp người sống trong cảnh xa nhà đằng đẵng suốt bao năm.

    Nhận định về tác dụng to lớn của văn chương, Hoài Thanh viết: Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sắn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần.

    Đây chính là chức năng giáo dục của văn chương. Văn chương nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm con người. Mục đích của văn chương là giúp con người tự khám phá, hiểu biết, nâng cao niềm tin vào bản thân và có khát vọng hướng tới chân lí, hướng tới cái đẹp của cuộc đời.

    Đặc điểm của văn chương là nâng con người vượt lên trên những lợi ích vật chất tầm thường. Đi vào thế giới của văn chương, người đọc sẽ sống cùng, cùng chia sẻ vui buồn, sướng khổ với nhân vật. Những giờ phút đến với văn chương, tâm hồn ra thanh thản biết bao ! Có thể nói văn chương đã đem đến cho con người niềm vui lớn lao và một đời sống tinh thần phong phú.

    Văn chương thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ của con người vẻ đẹp ngôn từ, vấn điệu, bằng kết cấu khéo léo của cốt truyện… nhưng trước hết nó làm rung động tâm hồn người đọc bằng hình tượng nhân vật điển hình trong tác phẩm. Những hình tượng điển hình như Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, Huấn Cao, chị Dậu, Chí Phèo… có sức sống muôn đời bởi đó chính là hiện thân đầy đủ nhất, khái quát nhất vui buồn, sướng khổ trong cuộc sống con người.

    Văn chương còn dạy cho ta bao điều hay lẽ phải trong cuộc đời, giúp ta ngày một hoàn thiện hơn về nhân phẩm, đạo đức. Văn chương giúp ta nâng cao kiến thức, mở rộng tâm hồn. Vì vậy, văn chương vừa là người bạn thân thiết vừa là nười thầy uyên bác, tận tình luôn bên cạnh chúng ta trên đường đời.

    Văn chương như một phép màu kì diệu làm cho những thứ bình thường trong cuộc sống bỗng trở nên đẹp đẽ lạ thường:

    Có kẻ nói từ khi thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa quả trông mới đẹp ; từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề tài ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay…

    Chúng ta thử đọc lại bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi:

    Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Côn Sơn có đá rêu phơi Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Trong rừng thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn...

    Khung cảnh thiên nhiên hiện lên sinh động với dòng suối chảy róc rách, rì rầm như tiếng đàn lúc khoan, lúc nhặt. Phiến đá phẳng phủ rêu xanh mướt, mịn như chiếu êm, Thông, tùng mọc như nêm. Rừng trúc bạt ngàn màu xanh tỏa bóng râm che mát hồn người. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Trãi, CÔn Sơn có một vẻ đẹp riêng, không giống vói bất cứ cảnh đẹp ở mộ nơi nào khác.

    Những vần thơ trên giúp chúng ta hiểu thêm cội nguồn tình yêu quê hương, đất nước của thi hào Nguyễn Trãi, đọc Côn Sơn ca, lòng ta xao xuyến, bồi hồi và càng thêm gắn bó với từng mảnh vườn, góc phố quê hương.

    Văn chương có vai trò quan trọng và có tác dụng lón lao nư vậy nên nó là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống nhân loại. Thử hình dung một ngày nào đó : Nếu trong pho lịch sử loài người xóa các thi nhân, văn nhân và đồng thời tâm linh loài người xóa hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn đến bực nào! Đây chính là giá trị to lớn và vĩnh cửu không có gì có thể thay thế được văn chương. Các thi sĩ văn nhân từ xưa đến nay đã dùng văn chương để tạo dựng nên thế giới tinh thân phong phú của nhân loại.

    Như thế là chỉ bằng bốn câu văn bàn uận về văn chương, Hoài Thanh đã giúp chúng ta hiểu thêm về nguồn gốc và vai trò quan trọng của văn chương. Văn chương nâng cao nhận thức, làm phong phú tâm hồn con người. Văn chương làm đẹp, làm giàu cho cuốc sống trên trái đất này.

    Đề bài: Phân tích bài Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh

    Bài làm

    Tác giả Phan Kế Bính đã định nghĩa văn chương rằng: “văn là vẻ đẹp, chương là vẻ sáng. Lời của người ta rực rỡ bóng bẩy, tựa như có vẻ đẹp vẻ sáng cho nên gọi là văn chương”. Khái niệm văn chương mà Hoài Thanh sử dụng trong tác phẩm này giống với định nghĩa của Phan Kế Bính, tức là tính nghệ thuật, vẻ đẹp của câu văn, lời văn.

    Hoài Thanh đã mở đầu tác phẩm bằng việc giải thích nguồn gốc của văn chương bằng một giai thoại: “Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi sĩ Ấn Độ thấy một con chim bị thương rơi xuống chân mình. Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim cùng hoà một nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau ấy chính là nguồn gốc của thi ca”.

    Nguồn gốc của văn chương không đâu xa chính là xuất phát từ những rung động nhỏ nhất trong trái tim của người thi văn sĩ đối với thế giới. Văn chương không thể có hình và có hồn nếu những cảm xúc bị dối trá. Để kết luận cho ý kiến này, tác giả lại khẳng định một lần nữa: “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra là thương cả muôn vật, muôn loài”. Không có gì khác ngoài lòng nhân ái bao la chính là khởi nguyên của văn chương. Đây là một nhận xét rất đúng đắn. Văn chương chính là công cụ để bộc lộ cảm xúc của con người, dẫu yêu hay ghét thì cũng đều xuất phát từ sự nhân ái trong lòng tác giả.

    Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nhìn nhận thêm về nguồn gốc của văn chương. Ngoài việc bắt nguồn từ lòng bác ái, văn chương còn bắt đầu từ hiện thực cuộc sống. Quan niệm này của Hoài Thanh cũng giống với quan niệm về văn chương của Nam Cao về nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng: “nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối… nghệ thuật chỉ có thể phát ra từ những kiếp lầm than trong cuộc sống…”. Ý kiến này đã được tác giả thể hiện thông qua nhận định: “văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng”. Những sự kiện về thế giới xã hội và tự nhiên đều được ghi lại trong văn học, thậm chí có những điều còn được ghi rất chi tiết và cụ thể. Văn chương đã phản ánh cuộc sống theo đúng quy luật tự nhiên của nó. Điều này có thể thấy trong thực tế bằng việc khi ta đọc các tác phẩm văn học dân gian sẽ biết được cha ông ta ngày xưa đã sống và gây dựng đất nước ra sao, chúng ta cũng hình dung ra một thời bom đạn máu lửa với những câu chuyện cảm động về những người lính,… Chúng ta có thể hình dung ra nhiều mặt của cuộc sống này thông qua những tác phẩm đó. Chính vì lẽ đó mà có ý kiến cho rằng: “văn chương đã mở ra trước mắt tôi một chân trời mới”.

    Tổng hợp hai ý kiến trên, ta có thể thấy rằng nguồn gốc của văn chương vừa bắt nguồn từ tình thương và cả hiện thực cuộc sống:”vậy thì, hoặc hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống, nguồn gốc của văn chương đều là tình cảm, lòng vị tha”. Hai yếu tố trên kết hợp lại với nhau sẽ tạo nên những tác phẩm giàu ý nghĩa.

    Văn chương sinh ra trên đời không chỉ bởi nhu cầu bộc lộ tình cảm của con người mà nó còn có những tác dụng to lớn đối với cuộc sống. Hoài Thanh đã chỉ ra rằng “Văn chương là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng… Văn chương còn sáng tạo ra sự sống”. Hai câu văn đã khẳng định được nhiệm vụ của văn chương là “hình dung ra sự sống” và “sáng tạo ra sự sống”. Điều này có nghĩa là mỗi nhà văn với con mắt nhìn cuộc đời khác nhau đã cho ta những hình ảnh về các góc nhìn của cuộc sống. Đều viết về Hà Nội nhưng Vũ Bằng lại có cái nhìn khác Thạch Lam, mỗi người khai thác một phương diện. Những hình ảnh của cuộc sống được hình dung qua văn chương cũng muôn màu muôn vẻ. Nguyễn Trãi ví tiếng suối như tiếng đàn cầm còn Hồ Chí Minh lại nghe như tiếng hát xa. Cách hình dung, tái hiện cuộc sống vào văn chương vô cùng phong phú. Thế giới này dường như không đủ rộng trong con mắt của những nhà văn. Hoài Thanh viết : “Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mối tình cảm dồi dào của nhà văn. Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác”. Đúng vậy, nhà văn bằng khối óc và trái tim đã sáng tạo nên những thế giới mới, thế giới có cả cái tôi nhà văn và cái ta cộng đồng nhân loại.

    Văn chương không chỉ có nhiệm vụ phản ánh thế giới mà quan trọng nhất là sự sáng tạo. Sáng tạo ở đây vừa là khả năng sáng tạo của tác giả văn chương vừa là khả năng sáng tạo của văn chương đối với cuộc sống.

    Thế giới được sáng tạo trong văn chương có thể giống hoặc khác so với hiện thực. Nó có thể là thế giới đáng mơ ước như trong các câu chuyện cổ tích như Lọ Lem, Tấm Cám,… nhưng cũng có thể đầy nghiệt ngã như trong các tác phẩm văn học hiện thực của Nam Cao hay các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh. Vậy những tác phẩm ấy sáng tạo ra sự sống bằng cách nào? Xét cho cùng các tác phẩm văn học dù có nói đến cái tốt hay cái xấu trong cuộc sống cũng chỉ với mục đích cải tạo, xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Truyện cổ tích phản ánh ước mơ của con người về một thế giới không còn những bất công, chỉ còn tình yêu thương và hạnh phúc. Đọc các tác phẩm hiện thực hay về chuến tranh để giúp con người nhận ra cái ác, cái xấu trong xã hội để có thể đấu tranh cho một cuộc sống tốt đẹp hơn. Đó chính là vai trò xây dựng cuộc sống của văn chương sau khi đã phản ảnh rất nhiều mặt của cuộc sống.

    Bên cạnh đó, Hoài Thanh còn khẳng định thêm một tác dụng to lớn của văn chương nữa: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm sẵn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần”. Thế giới tinh thần con người có lẽ là lãnh địa khó chạm đến nhất. Chúng ta không thể nhìn thấy, cảm nhận hay lắng nghe được bằng những giác quan thông thường. Thế nhưng thật lạ, văn chương lại có thể làm được nhiệm vụ khó khăn đó. Những đứa trẻ biết yêu thương những người thân yêu trong gia đình, biết yêu thương những con vật, cây cối thông qua những câu chuyện kể của ông bà cha mẹ.

    Con người biết yêu thương quê hương nguồn cội, yêu thương thế giới xung quanh để có thể yêu thương con người. Chúng ta biết khóc thương cho số phận của Kiều khi phải bán thân, cho cảnh chị Dậu đứt ruột bán con và bán chó. Những tình cảm ấy dễ gì có được ở chính cuộc sống này. Thế nhưng khi đi vào văn chương, khi có cái nhìn rộng lớn hơn, tình cảm con người trở nên bao la hơn với đồng loại của mình.

    Thế giới thực của mỗi chúng ta chỉ xoay quanh công việc, người thân và một ít bạn bè. Thế nhưng, khi tìm đến văn chương, ta biết được bên nửa bên kia bán cầu có cô bé bán diêm đáng thương trong đêm Noel, có chú bé chăn cừu nói dối hại thân. Thế giới tri thức mở ra cùng với tình thương yêu. Văn chương thẩm thấu vào tinh thần con người một cách tự nhiên và sâu sắc nên nó được ví như một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với chúng ta.

    Văn chương có vai trò quan trọng và lớn lao như vậy nên nó là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống nhân loại. Nếu bức tranh thế giới này mất khi gam màu của văn chương thì sẽ trở nên đơn điệu, buồn tẻ và xám xịt biết mấy: “Nếu pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn đến bậc nào!”. Đây chính là giá trị to lớn và vĩnh cửu không thể nào thay thế của văn chương. Văn chương đã tạo nên một thế giới khác song song với thế giới thực tại của nhân loại.

    Với những luận điểm chính xác và đầy tính nhân văn, Hoài Thanh đã giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc và tác dụng của văn chương. Văn chương vừa cung cấp tri thức như những bộ môn khoa học khác và quan trong hơn là khả năng bồi đắp tình cảm, tinh thần cho con người.

    Với cách lập luận chặt chẽ, khoa học kế hợp với những cảm xúc tinh tế, ta có thể nhận thấy tình yêu đối với văn chương của Hoài Thanh thông qua tác phẩm này. Qua đây tác giả cũng đã khẳng định được sức sống, sức hấp dẫn muôn đời của văn chương đối với con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Ý Nghĩa Văn Chương Của Hoài Thanh
  • Giải Thích Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Phân Tích Tác Phẩm Ý Nghĩa Văn Chương
  • Simso.vip Giải Mã 2 Ý Nghĩa Về Sim Số Đẹp Và Phong Thủy
  • Ý Nghĩa Số 29 Là Gì? Giải Mã Ý Nghĩa Sim Điện Thoại Đuôi 29
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100