Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Giải Bài Toán Có Lời Văn Lớp 2

--- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2
  • Chuyen De ” Giai Toan Co Loi Van Lop 2
  • Một Số Kinh Nghiệm Qua Việc Dạy Học Giải Toán Có Lời Văn Lớp 2
  • Kế Hoạch Bài Dạy Toán 1 Tuần 22: Giải Toán Có Lời Văn
  • Sáng Kiến Kn Giải Toán Có Lời Văn Lớp2 Sang Kkngiaitoanlop2Quy Doc
  • CHƯƠNG I TỔNG QUAN "Một số biện pháp giúp học sinh giải bài toán có lời văn lớp 2" 1. Cơ sở lý luận : Môn toán là một trong những môn học có nhiệm vụ rất quan trọng ở tiểu học. Học toán giúp các em bước đầu hình thành khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng, óc sáng tạo đa dạng và phong phú. Với sự hướng dẫn, gợi mở đúng mức, đúng lúc của các thầy cô, học sinh tự phát hiện và tự giải quyết các vấn đề của bài học, tự chiếm lĩnh nội dung học tập, thực hành. Trong các bài học của môn Toán thì dạng bài giải toán có lời văn giữ một vai trò rất quan trọng. Thông qua việc giải toán ở tiểu học các em bắt đầu làm quen với nhiều khái niệm toán học cơ bản ban đầu, biết được mối quan hệ giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua việc giải toán, rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy, ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, thói quen làm việc có kế hoạch, xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những ưu điểm và khắc phục những mặt còn hạn chế trong học tập và trong các hoạt động giáo dục khác. Ở lớp 2, các em còn nhỏ, ham chơi, vừa học, vừa chơi, chưa chú ý tập trung học tập. Với đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học là dễ nhớ nhưng mau quên, các em ham chơi và chơi nhiều hơn học, sự tập trung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững thích học nhưng chóng chán. Vì vậy giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho học sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học tập, chủ động tích cực trong việc tiếp thu kiến thức. Nếu không được hướng dẫn phương pháp học tập đúng mức, hợp lý, nhất là đối với những dạng bài toán có lời văn, thì các em không hoàn thành được bài tập hoặc làm bài không đúng với dạng toán được học. Nếu không hiểu cách làm hoặc thường làm bài sai các em sẽ chán nản dẫn tới kết quả học tập sẽ ngày càng sút kém. Các em không hiểu bài dẫn đến mất gốc kiến thức. Không xác định được cách học, cách làm, các em thường chán dẫn tới lì lợm, dửng dưng, không hợp tác học tập trong các tiết học. 2. Phương pháp tiếp cận tạo ra sáng kiến : Để nâng cao chất lượng học tập thì đổi mới phương pháp dạy học là thực sự cần thiết. Đòi hỏi người giáo viên phải luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra phương pháp dạy học tốt nhất để đạt kết quả cao nhất. Là giáo viên giảng dạy trực tiếp ở lớp 2, tôi nhận thấy chưa có nhiều học sinh giỏi môn toán, còn có nhiều học sinh học yếu môn toán so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định. Có nhiều em chưa giải được các dạng toán có lời văn trong chương trình học, tính toán chậm, hay nhầm lẫn. Vậy làm thế nào để giúp đỡ học sinh giài tốt các bài toán có lời văn để nâng cao hơn chất lượng học môn Toán? Đó là băn khoăn suy nghĩ của tôi. Qua một năm tìm tòi, áp dụng những phương pháp dạy học các dạng toán cần thiết trong môn Toán, tôi thấy bước đầu đã thu được kết quả. Tôi xin mạnh dạn trình bày, trao đổi cùng đồng nghiệp một số kinh nghiệm nhỏ của tôi trong việc giúp đỡ học sinh giải bài toán có lời văn lớp 2 ở trường Tiểu học và THCS Lập Chiệng để đồng nghiệp tham khảo. 3. Mục tiêu cần đạt được : Học sinh biết giải và trình bày bài giải đúng các dạng toán: - Bài toán về nhiều hơn. - Bài toán về ít hơn. - Giải bài toán có một phép nhân. - Giải bài toán có một phép chia. - Tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác. CHƯƠNG II MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Vấn đề của Sáng kiến : Từ đầu năm học, qua khảo sát và giảng dạy thực tế thấy rằng: số học sinh ham học toán và học giỏi môn toán còn hạn chế. Số học sinh học yếu môn toán so với chuẩn kiến thức kĩ năng còn nhiều. Có em có kết quả học tập môn toán thất thường, lúc lên, lúc xuống. Học sinh chưa thực sự thích học môn toán. Còn có em lười suy nghĩ khi làm bài nhất là giải các bài toán có lời văn... Để khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn toán ở tiểu học là vấn đề quan tâm không những của giáo viên mà còn là sự quan tâm của các cấp các ngành, cha mẹ học sinh. Thực tế ở lớp, qua kết quả quan sát học sinh học môn toán đầu năm : - Nhiều em tính toán chậm. chưa giải được các bài toán, dạng toán đơn giản trong chương trình học. - Chưa biết trình bày cách giải một bài toán cho đúng, đẹp và khoa học. - Có đến 70% học sinh trong lớp còn lúng túng khi gặp bài toán có lời văn. Đa số các em chưa nắm được đầy đủ quy trình các bước tiến hành giải một bài toán. Nhiều em mới chỉ biết bắt chước dạng bài làm mẫu giáo viên đã hướng dẫn. Các em chưa tích cực suy nghĩ, chưa tự giác làm bài. Vì vậy nên khi gặp bài toán khác với mẫu một chút là các em lúng túng, không biết làm phép tính gì, không biết cách tìm câu lời giải phù hợp với bài toán, dạng toán. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến : 2.1. Nguyên nhân : 2.1.1. Nhận thức chậm, tư duy kém. Những học sinh này không thuộc được bảng cộng trừ hoặc nhân chia đã học. Không vận dụng được các bảng tính đã học vào làm tính, giải toán. Tính toán phải đếm bằng tay mất nhiều thời gian mà kết quả vẫn sai. Không nhớ được cách thực hiện các phép tính, vừa làm bài xong đã quên, nhất là cộng trừ có nhớ. Đây là những đối tượng học sinh có kết quả học tập chưa đạt so với chuẩn kiến thức kĩ năng. Trong các bài toán các em chỉ lấy hai số có trong bài toán rồi cộng hoặc trừ. Các em không đọc bài toán hoặc đọc một lần không hiểu gì là ngồi chơi hoặc làm bừa phép tính. 2.1.2 Chưa có phương pháp học tập đúng. Với đối tượng này, các em thường lơ đãng trong giờ học. Giờ này làm việc khác, giờ toán lại giở tập đọc ra đọc. Giờ thầy cô hướng dẫn thì cắm cúi làm bài vào vở hoặc ngồi vẽ bậy để chơi. Có những em tay lúc nào cũng để trong ngăn bàn để nghịch một cái gì đó. Cả buổi học tìm kiếm trong cặp sách lúc thì cái bút, lúc thì quyển sách, lúc tìm thước kẻ Đây thường là những học sinh bướng bỉnh, mải chơi nên kết quả làm bài thường kém hoặc không hiểu cách làm, không hoàn thành hết bài tập. Về nhà không xem lại bài, không chuẩn bị bài và sách vở đồ dùng học tập trước khi đến lớp. Chưa có thói quen gọn gàng ngăn nắp, học xong bỏ sách vở không đúng nơi quy định nên hay quên. Đến lớp thiếu sách vở, thiếu phương tiện học tập và có kết quả học tập chưa tốt. Các đối tượng này cũng thường xuyên không học bài, thiếu sách vở, đồ dùng học tập, sách vở bẩn, nhàu nát. Gia đình chưa quan tâm nhắc nhở con em học tập ở nhà, chưa tạo điều kiện cho các em học tập. Học sinh chưa có góc học tập riêng. 2.1.3. Không đọc kĩ bài toán, lười phân tích, suy luận tìm ra cách giải. Những học sinh này thường hay làm bài ẩu dẫn tới sai sót hoặc chỉ đọc bài qua loa nên không biết làm thế nào cho đúng. Có trường hợp ngồi chờ cô giáo chữa bài hoặc bạn giải trên bảng để chép và rồi bài tập sau vẫn không làm được bài. 2.2. Hiệu quả của sáng kiến : Qua một năm học tìm hiểu, thấy được một số nguyên nhân cơ bản trên, nên tôi đã tiến hành các biện pháp giúp các em làm tốt hơn các dạng bài toán có lời văn như sau: 2.2.1. Đối với đối tượng học sinh nhận thức chậm, tư duy kém: Với những học sinh yếu này giáo viên cần lên kế hoạch giúp đỡ các em vào các tiết học chính khóa và vào các tiết buổi 2, các tiết ôn tập thêm cho học sinh yếu. Lúc nào cũng để mắt đến các em, nhắc nhở, hướng dẫn các em kịp thời. Sử dụng thường xuyên đồ dùng trực quan (Que tính, các hình vuông, hình tròn) nhắc đi nhắc lại cách tính hoặc cách làm một dạng toán để các em ghi nhớ được cách làm. Giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh ôn lại một số kiến thức, kỹ năng đã biết để tìm hiểu kiến thức cần học mới. Để hiểu được biện pháp mới, học sinh đã biết gì, cần ôn lại kiến thức nào, điều gì là mới cần dạy kỹ. Các kiến thức, kỹ năng cũ sẽ hỗ trợ cho kiến thức, kỹ năng mới, hay ngược lại dễ gây nhầm lẫn cần giúp học sinh phân biệt. Cách củng cố tốt nhất, không phải là yêu cầu học sinh nhắc lại bằng lời mà cần tạo điều kiện để học sinh vận dụng biện pháp. Qua giải các bài toán, để học sinh độc lập chọn phép tính và làm tính. Lúc này không nên cho những bài toán quá phức tạp, mà chỉ nên chọn bài toán đơn giản dùng đến phép tính hay quy tắc vừa học. Việc ôn luyện, củng cố những biện pháp tính khác, quy tắc khác sẽ làm trong giờ luyện tập, ôn tập. 2.2.2. Đối với đối tượng học sinh chưa có phương pháp học tập đúng: Giáo viên tạo cho các em có nề nếp học tập từ đầu năm học như: Sử dụng các kí hiệu trong giờ học yêu cầu học sinh thực hiện như: N: nghe và nhìn; S: mở sách giáo khoa; V: ghi bài, làm bài vào vở ghi; VBT: làm bài vào vở bài tập. Lấy đủ đồ dùng, sách vở cần dùng của môn học để trước mặt theo thứ tự cần dùng. Ví dụ: Giờ toán cần có bút, thước kẻ, bút chì, bảng con, phấn, vở ghi, sách giáo khoaGiáo viên yêu cầu các em xếp theo thứ tự dùng trước sau như: Vở ghi dùng sau để dưới cùng, rồi đến sách giáo khoa, bảng phấn để trên cùng vì được sử dụng trước, hộp bút để bên cạnh. Giáo viên thường xuyên bao quát lớp, nhắc nhở tư thế ngồi học và sự tập trung chú ý học tập của học sinh. Cho học sinh thi đua thực hiện các nề nếp học tập giữa các tổ trong lớp. Tuyên dương và tặng thưởng những đồ vật nhỏ như: cái bút, quả bóng baycác em rất phấn khởi và tạo được phong trào thi đua giữa các tổ nhómPhong trào học tập được thúc đẩy, kết quả học tập được nâng lên. 2.2.3. Đối với những học sinh không đọc kĩ bài toán, lười phân tích, suy luận tìm ra cách giải: Mỗi bài toán có lời văn là một tình huống có vấn đề buộc các em phải tư duy, suy luận và phân tích tổng hợp để giải quyết vấn đề. Nếu các em không đọc kĩ bài toán sẽ không hiểu được bài toán thuộc dạng nào, bài toán yêu cầu làm gì, cần làm phép tính gì để có đáp số đúng. Các em không hiểu hết các từ quan trọng trong bài toán để phân tích, suy luận tìm ra cách giải. Vì muốn giải được bài toán có lời văn thì các em phải hiểu lời văn thì mới làm được phép tính đúng. Khi làm phép tính thì phải hiểu lời giải này trả lời cho câu hỏi nào. Để khắc phục được tình trạng trên tôi tôi tiến hành hướng dẫn các em giải các bài toán theo các bước như sau: Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán Tập trung chú ý đến yêu cầu của bài toán. Trước hết giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh đọc kỹ đề bài, xác định cho được bài thuộc dạng toán nào, đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm. Để giải đúng một bài toán, các em cần đọc thật kỹ đề bài. Bởi đã có rất nhiều học sinh giải toán sai, không phải đề toán khó mà nguyên nhân là do học sinh vừa đọc đề xong đã vội vàng bắt tay vào giải ngay. Trong bất kỳ bài toán nào cũng có hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là những điều đã cho, bộ phận thứ hai là cái phải tìm. Bắt buộc phải xác định cho được, cho đúng những cái đã cho, những cái phải tìm trong bài toán. Cần nắm rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán, những gì không thuộc về bản chất đề toán để hướng sự chú ý vào những chỗ cần thiết. Từ nào chưa hiểu hết ý nghĩa thì phải nắm hiểu ý nghĩa của nó. Bước 2: Phân tích, tóm tắt bài toán Dùng câu hỏi gợi mở, giúp học sinh thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm bằng cách tóm tắt bài toán dưới dạng sơ đồ, hình vẽ hoặc ngôn ngữ ngắn gọn. Đây là bước quan trọng để thể hiện phần trọng tâm và toát lên những cái phải tìm của đề bài. Khi tóm tắt bài toán cần gạt bỏ những gì là thứ yếu, lặt vặt trong đề toán và hướng học sinh tập trung suy nghĩ vào những thứ chính yếu của đề toán, tìm cách biểu hiện bằng hình vẽ. Trong trường hợp khó vẽ được những điểm chính ấy thì cần dùng ngôn ngữ, kỹ hiệu ngắn gọn để ghi lại thật vắn tắt, thật cô đọng. Bước 3: Tìm cách giải bài toán Cần phân tích các giữ liệu, điều kiện và câu hỏi của bài toán nhằm xác lập mối liên hệ giữa chúng và tìm được các phép tính thích hợp. Lập kế hoạch giải bài toán, có hai hình thức thể hiện: - Đi từ câu hỏi của bài toán đến các số liệu. - Đi từ số liệu đến các câu hỏi của bài toán. Bước 4: Trình bày bài giải Dựa vào kết quả phân tích đề toán ở bước 3, xuất phát từ những điều đã cho trong đề toán, giáo viên giúp học sinh lần lượt viết lời giải và thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số, viết danh số, đơn vị phù hợp. Cần chú ý thử lại sau khi làm xong từng phép tính cũng như thử lại đáp số xem có phù hợp với đề toán hay không; cũng cần kiểm tra lại các lời giải của các phép tính xem đã phù hợp, đủ ý và ngắn gọn hay chưa Bước 5: Khai thác bài toán Bước này dành cho học sinh năng khiếu. Sau khi giải xong bài toán cần suy nghĩ xem còn những cách ghi lời giải nào khác nữa không? Cách ghi lời giải đó có phù hợp yêu cầu bài toán, phù hợp với phép tính không, ... 2.3. Kết quả Qua một năm thực hiện một số biện pháp giúp học sinh giải bài toán có lời văn lớp 2, tôi thấy việc áp dụng các biện pháp có hiệu quả. Bước đầu học sinh có sự chuyển biến về ý thức học tập, phương pháp học tập và chất lượng học tập. Học sinh đã nhớ được cách xác định các dạng toán, cách tóm tắt, phân tích và hướng giải các dạng toán, kết quả học môn toán được nâng lên rõ rệt. Nhiều em làm giải toán nhanh, yêu thích học môn toán. Kết quả cuối năm môn toán đạt được như sau: Giỏi: 8 em - 40 % Khá: 8 em - 40 % Trung bình: 4 em - 20 % Không còn học sinh yếu kém về môn toán. Từ kết quả đạt được trên, tôi nhận thấy phương pháp dạy học của tôi phù hợp với học sinh lớp mình phụ trách. Chất lượng học môn toán được nâng lên, cùng với môn học khác giúp các em hoàn thành chương trình lớp học. 3. Khả năng áp dụng nhân rộng sáng kiến : Kinh nghiệm của tôi đơn giản, dễ thực hiện. Tất cả giáo viên trong trường tiểu học Lập Chiệng và các trường vùng khó khăn khác trong huyện đều có thể áp dụng để giúp học sinh giải được các bài toán có lời văn lớp 2, từ đó giúp các em học tốt hơn môn Toán lớp 2. CHƯƠNG III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận : Để đạt được mục tiêu dạy - học và góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học thì việc tìm tòi sáng tạo, đúc rút kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy của người giáo viên là thực sự cần thiết. Qua mỗi bài học, mỗi môn học, người giáo viên lại rút được kinh nghiệm thiết thực cho bản thân để bài học sau giảng dạy tốt hơn bài học trước. Thấy được việc nào cần làm, cần hướng dẫn học sinh như thế nào để học sinh hiểu bài, nắm bắt được kiến thức một cách có hệ thống, chính xác và kết quả học tập của học sinh ngày càng tốt hơn. Trong đó, dạy giải toán có lời văn là một bộ phận quan trọng của chương trình toán tiểu học. Nó được kết hợp chặt chẽ với nội dung của các kiến thức về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học. Dạy giải toán là một hoạt động khó khăn, phức tạp về mặt trí tuệ, do đó khi giải toán có lời văn đòi hỏi học sinh phải phát huy trí tuệ một cách tích cực linh hoạt, chủ động và sáng tạo. Qua việc giải toán của học sinh, giáo viên dễ dàng phát hiện ra những ưu điểm và thiếu sót để giúp các em khắc phục và phát huy. 2. Đề xuất/kiến nghị : 1. Đối với nhà trường Thường xuyên tổ chức các chuyên đề trong tổ, và toàn trường để cùng nhau bàn biện pháp giảng dạy tốt nhất. Tìm ra các phương pháp hữu hiệu bồi dưỡng, phụ đạo học sinh yếu, đặc biệt là môn toán. Tổ chức cho giáo viên đi thăm và học hỏi kinh nghiệm dạy tốt của các đơn vị tiêu biểu trong và ngoài tỉnh. 2. Đối với giáo viên Soạn bài và chuẩn bị kĩ bài dạy trước khi lên lớp. Bài dạy cần thể hiện rõ nội dung yêu cầu cần đạt đối với từng đối tượng học sinh và phương pháp dạy từng đối tượng học sinh đó. Sáng tạo trong giảng dạy, bài dạy hấp dẫn, lôi cuốn học sinh tham gia các hoạt động học tập. Kích thích học sinh tư duy suy nghĩ xây dựng bài. Tạo không khí học tập vui vẻ, hợp tác giữa các bạn trong nhóm học tập của học sinh. Thường xuyên giữ vững liên lạc hai chiều với gia đình học sinh. Thăm gia đình học sinh để hiểu rõ điều kiện hoàn cảnh của từng học sinh. Kiểm tra việc học bài buổi tối của học sinh đặc biệt là đối tượng học sinh yếu. 3. Đối với học sinh Xác định rõ mục đích và nhiệm vụ học tập của từng môn học. Xây dựng cho mình tói quen học hỏi và phương pháp học tập đúng đắn, nghiêm túc. Có đủ sách vở, đồ dùng học tập của từng môn học. Giữ gìn, bảo quản đồ dùng sách vở sạch đẹp, bền lâu. Mạnh dạn, tự tin hợp tác cùng các bạn trong các hoạt động học tập. Tôi xin cảm ơn. Lập Chiệng, ngày 3 tháng 5 năm 2022 XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Bùi Thị Khuyến ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CÁC CẤP

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Nhỏ Qua Việc Dạy Giải Toán Có Lời Văn Lớp 2
  • Hướng Dẫn Phương Pháp Dạy Giải Toán Có Lời Văn Lớp 2
  • Hướng Dẫn Học Sinh Lớp 2 Giải Bài Toán Có Lời Văn_2
  • 770 Bài Tập, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Vật Lí 10 Chọn Lọc, Có Đáp Án.
  • Sách Giải Lưu Hoằng Trí Lớp 8 Unit 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Toán Có Lời Văn Cho Hs Lớp 1
  • Skkn: Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Đề Thi Hk1 Môn Toán Lớp 3 Có Lời Giải
  • 9 Đề Thi Học Kỳ 1 Môn Toán Lớp 3 Có Đáp Án Năm Học 2022
  • Tuyển Tập Đề Thi Học Sinh Giỏi Toán Lớp 3
  • I. PHẦN MỞ ĐẦU

    1) Lý do chọn đề tài:

    Toán học là một môn học trọng điểm trong chương trình giáo dục ở tiểu học. Môn toán ở tiểu học có nhiệm vụ :

    – Kiến thức : Cung cấp những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.

    – Kỹ Năng : Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải các bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống. Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống

    – Thái độ : Kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp dạy học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.

    Các phương pháp dạy học môn toán cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi phương pháp là một ứng dụng để chuyển tải nội dung tới học sinh. Đối với một số môn học khác, việc sử dụng phương pháp dạy học thường đơn giản hơn, có thể chỉ dùng một số ít phương pháp để giảng dạy là đủ. Nhưng đối với môn toán thì lại hoàn toàn khác, là môn học sử dụng nhiều phương pháp nhất, đặc biệt là lớp học có tỷ lệ học sinh không đồng đều về kiến thức thì giáo viên phải sử dụng đồng thời nhiều phương pháp để thực hiện được mục tiêu dạy học.

    Nội dung kiến thức của môn toán cũng rất phong phú và đa dạng, mỗi khối lớp đều có một nội dung kiến thức khác nhau tương ứng với khả năng tiếp thu của học sinh.

    Chẳng hạn ở lớp 1, môn toán cung cấp cho học sinh những khái niệm về số, thực hiện các phép tính trong phạm vi 100, nhận dạng các đặc điểm của hình, đếm, đo hình vuông, tam giác và tập làm các bài toán có lời văn,..

    Lên lớp 2 những kiến thức đó được nâng cao hơn: thực hiện các phép tính trong phạm vi 1000, nhận dạng các đặc điểm của hình, đếm, đo hình vuông, tam giác, hình tứ giác, hình chữ nhật và giải bài toán có lời văn ở mức cao hơn.

    Sang lớp 3 kiến thức của môn toán tiếp tục nâng cao hơn như thực hiện các phép tính trong phạm vi 100.000, biết tính diện tích, chu vi của các hình quen thuộc,…

    Một nội dung đặc biệt quan trọng trong môn toán đã được đưa vào xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5 đó là nội dung giải toán có lời văn. Nó có tầm quan trọng đặc biệt trong vị trí của môn Toán, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về giải toán, biết sử dụng lời giải cho câu trả lời vận dụng khả năng khéo léo, sáng tạo của học sinh. Ơû lớp 3 nội dung giải toán có lời văn chiếm một số lượng khá lớn trong các dạng bài tập của chương trình.

    Vậy giải toán có lời văn có những giảng bài tập nào? Phương pháp giải ra sao? Đó chính là nội dung của đề tài tôi đang nghiên cứu : “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh cách giải toán có lời văn trong chương trình toán lớp 3”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sang Kien Kinh Nghiem Lop 3
  • Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 3/3 Trường Tiểu Học Trần Bình Trọng Giải Các Bài Toán Có Lời Văn
  • Cách Học Toán Lớp 3 Hiệu Quả Để Phát Huy Khả Năng Của Trẻ
  • 252 Bài Toán Luyện Thi Violympic Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Học Sinh Giải Bài Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Toán Lớp 3 Một Số Biện Pháp Nhằm Giúp Học Biết Giải Toán Có Lời Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Dạy Học Về Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 3
  • Giải Lưu Hoằng Trí Lớp 8 Unit 12
  • Giải Lưu Hoằng Trí Lớp 8 Unit 1
  • Sách Giải Lưu Hoằng Trí Lớp 8
  • ĐỀ TÀI

    I./ Lý do hình thành sáng kiến:

    Bước vào năm học, sau khi nhận học sinh một vài tuần, các nề nếp đang được ổn định dần, song song tiến hành ôn tập Toán, ôn luyện lại các kiến thức đã học, nhanh chóng giúp các em củng cố sau ba tháng hè.

    – Qua kiểm tra ôn tập hằng học, lớp tôi có một số học sinh chưa thực sự ham học môn toán giải có lời văn, vào tiết học thụ động, lười , ít chú ý môn học. Vì vậy, tôi đã áp dụng một số biện pháp mà những năm qua tôi thực hiện có kết qua.û Trăn trở trước đối tượng học sinh chưa ham học toán có lời văn. Vì các em không những thụ động trong học tập mà còn ham chơi làm ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu lớp. Trong khi phương pháp học mới của chương trình tiểu học hiện nay lại coi trọng việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập, cần tổ chức nhiều hình thức học tập thu hút học sinh. Cũng như những năm trước, năm nay lớp tôi cũng tiếp nhận một số học sinh chưa thực sự ham học toán có lời văn, khiến tôi ưu tư lo lắng làm thế nào giúp các em thấy việc học toán là nhu cầu cần thiết, giúp các em ham học và chịu khó học bài, làm bài.

    II/. Nội dung và biện pháp giúp đỡ học sinh yếu khi giải toán có lời văn:

    1/. Quá trình phát triển kiểm nghiệm:

    – Dạy toán nhằm giúp học sinh:

    Việc dạy học giải toán nhằm giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện thực hành với những yêu cầu thể hiện một cách đa dạng, phong phú. Nhờ việc dạy học giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyên phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người lao động mới.

    Giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác : Xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu , giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán: chọn được phép tính thích hợp trả lời đúng câu hỏi của bài toán.

    Các bài toán số học được phân chia thành các bài toán đơn và khối các bài toán hợp. Bài toán được giải bằng một bước tính gọi là bài toán đơn; bài toán được giải bằng một số bước được gọi là bài toán hợp.

    Hình thành và rèn luyện kỹ năng: thực hành, đọc, viết, đếm, so sánh các số, giải một số dạng bài toán đơn về cộng trừ, bước đầu diễn đạt bằng lời… Những nội dung có quan hệ đến đời sống thực tế của học sinh.

    Giáo dục học sinh: chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học tập toán

    Thông qua các hoạt động dạy học giải toán có lời văn , giáo viên tiếp tục giúp học sinh : Phát triển các năng lực tư duy ( so sánh, lựa chọn, phân tích , tổng hợp, trừ tượng hoá, khái quát hoá); Pháp triển trí tưởng tượng không gian, tập nhận xét các số liệu thu thập được, diễn đạt gọn, rõ, đúng các thông tin , cẩn thận, chăm chỉ, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành toán .

    2/. Thực trạng ban đầu:

    Thực tế qua giảng dạy, tôi thấy các em còn chưa ham học trong việc giải toán có lời văn. Trong các lý do dẫn đến học sinh khi giải toán có nhiều nguyên nhân:

    ( Giáo viên:

    – Kế hoạch bài soạn của giáo viên còn sơ sài hoặc bỏ qua khâu hướng dẫn. Giáo viên chỉ soạn qua loa. Hay chỉ truyền thụ những kiến thức sẵn có để cung cấp cho học sinh.

    – Giáo viên còn lúng túng khi đặt câu hỏi để hướng dẫn học sinh giải.

    – Truyền đạt của giáo viên khi hướng dẫn giải không rõ ràng, khó hiểu.

    – Chưa đúc kết được kinh nghiệm hướng dẫn giải. Mà cứ hướng dẫn theo bài bản sư phạm của môn toán ở Tiểu học. Làm học sinh trung bình, yếu, kém, không thể tiếp thu được để giải bài toán.

    ( Học sinh:

    Học sinh đọc cho qua loa, không cần suy nghĩ giải như thế nào?

    Đưa ra đề toán cho học sinh rất lười, không đọc đề để hiểu yêu cầu bài tập làm gì?

    – Giải toán có lời văn học sinh chưa biết cách để thể hiện bài giải, khó nhận ra đâu là đơn vị , lời giải của bài toán

    Học sinh không cảm thụ được đề toán yêu cầu làm gì ? và phải làm như thế nào?

    ( Tóm lại học sinh không nhận ra được yêu cầu cốt lỏi ở bài toán có lời văn và nếu thể hiện thì còn nhiều yếu tố như : trình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến: Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3 Skkn Giai Toan Co Loi Van Lop 3 Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 3
  • Tuần 2. Ai Có Lỗi?
  • Kinh Nghiệm Dạy Học Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Trang 52 Sgk Toán 3: Luyện Tập Bài Toán Giải Bằng Hai Phép Tính
  • Bài 1, 2, 3, 4 Trang 52 Sgk Toán 3: Luyện Tập Trang 52 Sgk Toán Lớp 3…
  • Giải Bài Tập Toán 3 Trang 52 Tập 1 Câu 1, 2, 3, 4
  • Giải Bài Luyện Tập Trang 52 Sách Giáo Khoa Toán Lớp 3
  • Giải Toán Lớp 3 Trang 37, 38: Giảm Đi Một Số Lần
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    ĐỀ TÀI:

    “RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 5”

    1

    PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

    Chương trình Toán của Tiểu học có vị trí rất quan trọng. Toán học góp phần quan trọng

    trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Trên cơ sở

    cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về số học, các số tự nhiên, các số thập phân, các

    đại lượng cơ bản, giải toán có lời văn ứng dụng thiết thực trong đời sống và một số yếu tố

    hình học đơn giản.

    Môn toán ở Tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái quán

    hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triển hợp lý khả năng suy

    luận và biết diễn đạt đúng bằng lời, bằng viết, các suy luận đơn giản, góp phần rèn luyện

    phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo.

    Mục tiêu nói trên được thông qua việc dạy học các môn học, đặc biệt là môn Toán. Môn

    này có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên cứu hệ

    thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và lao động của

    con người. Môn toán là ”chìa khoá” mở của cho tất cả các ngành khoa học khác, nó là công

    cụ cần thiết của người lao động trong thời đại mới. Vì vậy, môn toán là bộ môn không thể

    thiếu được trong nhà trường, nó giúp con người phát triển toàn diện, nó góp phần giáo dục

    tình cảm, trách nhiệm, niềm tin và sự phồn vinh của quê hương đất nước.

    Trong dạy – học Toán ở Tiểu học, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí quan trọng.

    Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động tích cực các

    kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biết

    phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh và trong

    chừng mực nào đó, phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo. Vì vậy có thể coi giải toán có

    lời văn là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh.

    Dạy học giải toán có lời văn ở bậc Tiểu học nhằm mục đích chủ yếu sau:

    – Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành đã học,

    rèn luyện kỹ năng tính toán bước tập dượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực

    hành vào thực tiễn.

    – Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kỹ năng

    suy luận, khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi.

    2

    – Rèn luyện cho học sinh những đặc tính và phong cách làm việc của người lao động, như:

    cẩn thận, chu đáo, cụ thể, …

    Ở học sinh lớp 5, kiến thức toán đối với các em không còn mới lạ, khả năng nhận

    thức của các em đã được hình thành và phát triển ở các lớp trước, tư duy đã bắt đầu có

    chiều hướng bền vững và đang ở giai đoạn phát triển. Học sinh đã có vốn sống, vốn hiểu

    biết thực tế đã bước đầu có những hiểu biết nhất định. Tuy nhiên trình độ nhận thức của

    học sinh không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giải các bài toán có lời văn cao hơn những lớp

    trước, các em phải đọc nhiều, viết nhiều, bài làm phải trả lời chính xác với phép tính, với

    các yêu cầu của bài toán đưa ra, nên thường vướng mắc về vấn đề trình bày bài giải: sai sót

    do viết không đúng chính tả hoặc viết thiếu, viết từ thừa. Một số sai sót mà học sinh

    thường mắc là không chú ý phân tích theo các điều kiện của bài toán, … nên đã lựa chọn

    sai phép tính.

    Với những lý do đó, học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng, việc học toán

    và giải toán có lời văn là rất quan trọng và rất cần thiết. Để thực hiện tốt mục tiêu đó, giáo

    viên cần phải nghiên cứu, tìm biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bài toán một

    cách vững vàng, hiểu sâu được bản chất của vấn đề cần tìm, mặt khác giúp các em có

    phương pháp suy luận toán lôgic thông qua cách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng

    tạo trong cách thực hiện. Từ đó giúp các em hứng thú, say mê học toán. Từ những căn cứ

    đó tôi đã lựa và thực hiện sáng kiến “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5

    ” để nghiên cứu, với mục đích là:

    – Tìm hiểu những kỹ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải toán có lời văn cho học

    sinh lớp 5.

    – Hướng dẫn học sinh giải cụ thể một số bài toán, một số dạng toán có lời văn ở lớp 5, từ

    đó đúc rút kinh nghiệm, đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao chất lượng dạy – học giải

    toán có lời văn.

    3

    PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    1. Cơ sở lý luận

    Giải toán là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bậc Tiểu học.

    Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học, số tự nhiên,

    phân số, các số thập phân, các đại lượng cơ bản, các yếu tố đại số và hình học có trong

    chương trình.

    Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các vấn đề sau:

    +) Các khái niệm và các quy tắc trong sách giáo khoa nói chung đều được giảng dạy thông

    qua việc giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức, rèn luyện

    kỹ năng tính toán. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng

    phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kỹ năng và tư duy để

    giúp các em phát huy hoặc khắc phục.

    +) Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông qua

    việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp học

    sinh hình thành và rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng ngày,

    giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống.

    +) Việc giải toán góp phần quan trọng trong việc xây dựng cho học sinh những cơ sở ban

    đầu của lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, thế giới quan duy vật biện chứng: việc

    giải toán với những nội dung thích hợp, có thể giới thiệu cho các em những thành tựu trong

    công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta và các nước anh em, trong công cuộc bảo vệ hoà

    bình của nhân dân thế giới, góp phần giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường, phát triển

    dân số có kế hoạch v.v… Việc giải toán có thể giúp các em thấy được nhiều khái niệm toán

    học, ví dụ: các số, các phép tính, các đại lượng v v… đều có nguồn gốc trong cuộc sống

    hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được các mối quan hệ biện chứng

    giữa các dữ kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm v v..

    +) Việc giải toán góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và

    những phẩm chất tốt của con người lao động mới.

    Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cần

    phân biệt cái gì đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện giữa cái

    đã cho và cái phải tìm; Suy luận, nêu lên những phán đoán, rút ra những kết luận, thực hiện

    4

    nước thể hiện qua Nghị quyết XI của Đảng về đổi mới căn bản Giáo dục Việt Nam theo

    hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế. Qua đó tôi

    thấy được đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới từ cách nghĩ, cách soạn và giảng bài.

    Nhưng đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ những phương pháp dạy

    học truyền thống mà trên cơ sở đó chúng ta sử dụng những phương pháp dạy học tích cực,

    linh hoạt phù hợp với đặc trưng tiết dạy, thừa kế, phát huy những ưu điểm của phương

    pháp dạy học truyền thống.

    3.2. Xây dựng các bước cơ bản khi dạy 1 bài toán có lời văn ở lớp 5.

    a/ Tìm hiểu đề

    Đây là bước rất quan trọng nó giúp học sinh nắm được các dữ liệu của bài toán đã

    cho yếu tố bài toán yêu cầu giải đáp. Do đó, khi đọc đề toán tôi hướng dẫn học sinh đọc kỹ

    đề bài để nắm được các dữ liệu đã cho và yếu tố bài toán yêu cầu tìm.

    Dựa vào đề bài tóm tắt bài toán bằng lời ngắn gọn, hoặc sơ đồ đoạn thẳng.

    tắt đủ ý, chính xác, ngắn gọn và cô đọng.

    Tóm

    b/ Lập kế hoạch giải

    Dựa vào phần tóm tắt, tôi lựa chọn câu hỏi thích hợp để giúp học sinh xác định đầy

    đủ. Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? (Yêu cầu cần tìm).

    Bằng phương pháp gợi mở, tôi dẫn dắt học sinh bằng cách đưa ra những tình huống

    gợi mở để học sinh tìm ra cách giải bài toán: Làm thế nào? tại sao?,…

    c/ Giải bài toán

    Đây là bước rất quan trọng bởi khi học sinh đã tìm ra được phép tính đúng nhưng khi

    trình bày bài giải lại chưa hoàn chỉnh ( câu trả lời chưa đúng). Vì vậy khi hướng dẫn học

    sinh trình bày bài giải tôi đã hướng dẫn học sinh cần lưu ý dựa vào phần tóm tắt bài toán

    để tìm ra câu trả lời đúng và ghi đúng danh số

    ( dựa vào đề bài).

    d/ Thử lại

    Sau khi giải bài toán xong, tôi hướng dẫn học sinh thử lại.

    3.3. Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước giải một bài toán có lời văn.

    6

    a. Dạy bài toán tìm số trung bình cộng

    Đối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:

    – Tìm tổng

    – Chia tổng đó cho số các số hạng

    * Ví dụ:

    Một vòi nước chảy vào bể. Giờ đầu chảy được

    bể, giờ thứ hai chảy vào được

    bể. Hỏi trung bình mỗi giờ vòi nước đó chảy vào được bao nhiêu phần bể?

    ( Bài 3 trang 32- SGK toán 5 )

    Bước1: Tìm hiểu đề

    – Cho học sinh tự đọc đề bài nhiều lượt.

    – Hướng dẫn học sinh nắm các dữ liệu bài toán.

    +) Bài toán cho biết gì? (Giờ đầu chảy

    bể, giờ thứ hai chảy được

    bể.)

    +) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Trung bình mỗi giờ vòi nước đó chảy vào được bao

    nhiêu phần bể? )

    – Tóm tắt:

    Giờ đầu:

    Giờ hai:

    TB 1 giờ:… phần bể?

    Bước 2: Lập kế hoạch giải

    Muốn tìm trung bình mỗi giờ vòi nước chảy được bao nhiêu phần bể ta làm thế nào?

    ( Ta lấy giờ đầu cộng giờ hai rồi chia cho 2)

    Bước 3: Giải bài toán

    7

    Bài giải

    Trung bình mỗi giờ vòi nước chảy được là:

    (

    (

    Đáp số:

    ( bể nước)

    bể

    Bước 4: Thử lại

    Muốn thử lại bài toán ta làm thế nào? ( lấy

    nhân với 2 rồi trừ

    1

    bằng 5 )

    b. Dạy bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó.

    Đối với bài toán này tôi đã hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước giải .

    – Xác định tổng của hai số cần tìm .

    – Xác định tỉ số của hai số phải tìm

    – Vẽ sơ đồ.

    – Tìm tổng số phần bằng nhau.

    – Tìm giá trị 1 phần .

    – Tìm mỗi số phải tìm theo số phần được biểu thị.

    * Ví dụ:Tổng của hai số là 80. Số thứ nhất bằng

    số thứ hai. Tìm 2 số đó.

    ( BT1/a – trang 18 – SGK toán 5 )

    Bước 1: Tìm hiểu đề

    – Tôi hướng dẫn các em đọc đề toán nhiều lần để tìm hiểu các dữ liệu tường minh

    của bài toán.

    +) Bài toán cho biết gì? (Tổng của hai số là 80. Số thứ nhất bằng

    số thứ hai)

    +) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm 2 số đó)

    – Tóm tắt bài toán

    8

    Hãy nêu cách vẽ sơ đồ bài toán? ( Dựa vào tỉ số của hai số, ta có thể vẽ sơ đồ bài

    toán. Tỉ số của số thứ nhất và số thứ hai là

    , nếu số thứ nhất là 7 phần thì số thứ hai sẽ là

    9 phần như thế )

    Bước 2: Lập kế hoạch giải

    – Làm thế nào để tìm được hai số đó? ( Tính tổng số phần bằng nhau, sau đó tìm số

    thứ nhất số thứ hai)

    – Dựa vào sơ đồ em có thể tìm số nào trước ( số thứ nhất hoặc số thứ hai trước đều

    được).

    – Em tìm số thứ nhất bằng cách nào? ( tính tổng số phần sau đó lấy tổng chia cho

    tổng số phần rồi nhân với số phần biểu thị số đó).

    – Tìm được số thứ nhất rồi em làm cách nào để tìm được số thứ hai? (lấy tổng trừ đi

    số thứ nhất).

    Bước 3: Giải bài toán

    Cách 1: Ta có sơ đồ:

    ?

    Số thứ nhất:

    Số thứ hai:

    Theo sơ đồ, số thứ nhất là:

    80 : ( 7 + 9 ) x 7 = 35

    Số thứ hai là :

    80 -35 = 45

    Đáp số : Số thứ nhất: 35

    9

    Số thứ hai

    80

    Số thứ nhất

    ?

    Theo sơ đồ, số thứ hai là:

    80 : ( 9 + 7 ) x 9 = 45

    Số thứ nhất là:

    80 – 45 = 35

    Đáp số: Số thứ hai: 45

    Số thứ nhất: 35

    Bước 3: Thử lại

    Tổng số thứ nhất và số thứ hai là: 35 + 45 = 80

    Tỷ số giữa số thứ nhất và số thứ hai là:

    c. Dạy bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó

    Đối với dạy toán này tôi cũng hướng dẫn các em làm bài toán theo

    bước:

    – Xác định hiệu của 2 số .

    – Xác định tỉ số của hai số

    – Tìm hiệu số phần bằng nhau

    10

    – Tìm giá trị 1 phần

    – Tìm mỗi số theo số phần biểu thị.

    * Ví dụ: Hiệu của hai số là 55. Số thứ nhất bằng

    số thứ hai. Tìm hai số đó .

    ( Bài 1/b – trang 18- SGK toán 5)

    Bước 1: Tìm hiểu đề

    Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài và tìm hiểu những dữ liệu đã biết của bài, yêu cầu

    của bài toán.

    +) Bài toán cho biết gì? ( Hiệu của hai số là 55. Số thứ nhất bằng

    số thứ hai)

    +) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm 2 số đó)

    – Tóm tắt bài toán

    Hãy nêu cách vẽ sơ đồ bài toán? ( Dựa vào tỉ số của hai số, ta có thể vẽ sơ đồ bài

    toán. Tỉ số của số thứ nhất và số thứ hai là

    , nếu số thứ nhất là 9 phần thì số thứ hai sẽ là

    4 phần như thế )

    Bước 2: Lập kế hoạch giải

    – Làm thế nào để tìm được hai số đó? ( Tính hiệu số phần bằng nhau, sau đó tìm số

    thứ nhất số thứ hai)

    – Làm thế nào để tìm được số thứ hai ( em hãy đi tìm giá trị của 1 phần rồi nhân với số

    phần biểu thị )

    – Em tìm giá trị 1 phần bằng cách nào? ( lấy hiệu chia cho hiệu số phần)

    – Tìm được số thứ hai, muốn tìm số thứ nhất em phải làm thế nào?

    ( Lấy số bé cộng với hiệu )

    – Bài nào có thể có mấy cách giải ( 2 cách giải )

    Bước 3: Giải bài toán

    Cách 1:

    ?

    11

    Theo sơ đồ, số thứ hai là :

    55 : ( 9 – 4) x 4 = 44

    Số thứ nhất là :

    44 + 55 = 99

    Đáp số: Số thứ hai: 44

    Số thứ nhất: 99

    Cách 2:

    Ta có sơ đồ:

    ?

    55

    Số thứ hai:

    Theo sơ đồ, số thứ nhất là :

    55 : ( 9 – 4) x 9 = 99

    Số thứ hai là :

    99 – 55 = 44

    Đáp số: Số thứ nhất: 99

    12

    Số thứ hai: 44

    Bước 4: Thử lại

    Hướng dẫn HS thử lại bài toán.

    Hiệu giữa 2 số là :

    99 – 44 = 55

    Tỉ số của số thứ nhất bằng

    số thứ hai:

    d. Dạy bài toán tìm tỉ số phần trăm

    * Dạy bài toán tìm tỉ số phần trăm của hai số.

    Đối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:

    – Tìm thương của hai số đó.

    – Nhân thương đó với 100, viết thêm kí hiệu % vào bên phải tích tìm được.

    * Ví dụ:

    Một lớp học có 25 học sinh, trong đó có 13 học sinh nữ. Hỏi số học sinh nữ chiếm

    bao nhiêu phần trăm số học sinh của lớp đó?

    ( Bài 3 trang 75 – SGK toán 5 )

    Bước 1: Tìm hiểu đề

    – Cho học sinh tự đọc đề bài nhiều lượt.

    – Hướng dẫn học sinh nắm các dữ liệu bài toán.

    +) Bài toán cho biết gì? (Lớp học có 25 học sinh, trong đó có 13 học sinh nữ)

    +) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Số học sinh nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số học sinh

    của lớp)

    – Tóm tắt bài toán

    Lớp học: 25 học sinh

    Trong đó: 13 nữ

    Nữ: …% số HS lớp?

    13

    Bước 2: Lập kế hoạch giải:

    Muốn tính số HS nữ chiếm bao nhiêu số phần trăm số HS của lớp ta làm thế

    nào ? (Tìm thương của 13 và 25 sau đó nhân thương đó với 100, viết thêm kí hiệu phần

    trăm vào bên phải tích vừa tìm được ).

    Bước 3 : Giải bài toán

    Tỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS cả lớp là:

    13 : 25 = 0, 52

    0,52 = 52%

    Đáp số: 52 %

    Bước 3: Thử lại

    Muốn thử lại bài toán ta làm thế nào? (Thực hiện phép tính ngược lại để kiểm tra kết

    quả)

    52 : 100 × 25 = 13

    * Dạy bài toán tìm một số phần trăm của một số.

    Đối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:

    – Lấy số đó chia cho 100.

    – Nhân thương đó với số phần trăm.

    Hoặc:

    – Lấy số đó nhân với số phần trăm

    – Nhân tích đó với 100.

    * Ví dụ :

    Một lớp học có 32 học sinh, trong đó số học sinh 10 tuổi chiếm 75%, còn lại là học

    sinh 11 tuổi. Tính số học sinh 11 tuổi của lớp học đó.

    (Bài 1 – trang 77 – SGK toán 5)

    Bước 1: Tìm hiểu đề

    – Tôi hướng dẫn học sinh đọc đề toán nhiều lần, nhấn mạnh những dữ kiện cho trước

    và yếu tố cần tìm.

    +) Bài toán cho biết gì? ( lớp học có 32 học sinh, số học sinh 10 tuổi chiếm 75% còn

    lại là HS 11 tuổi).

    14

    +) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tính số học sinh 11 tuổi của lớp học đó)

    – Tóm tắt bài toán:

    Lớp học: 32 học sinh

    HS 10 tuổi: 75%

    HS 11 tuổi:… học sinh

    Bước 2: Lập kế hoạch giải:

    – Làm thế nào để tính được số học sinh 11 tuổi? ( Ta lấy tổng số học sinh cả lớp trừ

    đi số học sinh 10 tuổi)

    – Vậy trước hết ta phải tìm gì? ( Tìm số HS 10 tuổi)

    Bước 3 : Giải bài toán

    Bài giải

    Cách 1:

    32

    ×

    Số học sinh 10 tuổi là:

    75 : 100 = 24 (học sinh )

    Số học sinh 11 tuổi là:

    32 – 24 = 8 ( học sinh)

    Đáp số: 8 học sinh

    Cách 2: Số học sinh 10 tuổi là:

    32 : 100

    ×

    75 = 24 (học sinh )

    Số học sinh 11 tuổi là:

    32 – 24 = 8 (học sinh)

    Đáp số: 8 học sinh

    Bước 4: Thử lại

    Hướng dẫn học sinh thử lại: 8 + 24 = 32

    * Dạy bài toán tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của nó

    15

    Đối với bài toán này tôi đã hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước giải:

    – Lấy giá trị phần trăm chia cho số phần trăm.

    – Nhân thương đó với 100.

    Hoặc: – Lấy giá trị phần trăm nhân với 100.

    – Lấy tích chia cho số phần trăm.

    * Ví dụ: Số học sinh khá của trường Vạn Thịnh là 552 em, chiếm 92% số học sinh toàn

    trường. Hỏi trường Vạn Thịnh có bao nhiêu học sinh?

    (BT1 – trang 78 – SGK toán 5 )

    Bước 1: Tìm hiểu đề

    – Tôi hướng dẫn các em đọc đề toán nhiều lần để tìm hiểu các dữ liệu tường minh

    của bài toán.

    +) Bài toán cho biết gì? ( Số HS khá 552 em chiếm 92% số HS cả trường)

    +) Bài toán yêu cầu tìm gì? ( Trường đó có bao nhiêu học sinh)

    – Tóm tắt bài toán

    HS khá trường 552 em : chiếm 92% số HS toàn

    trường

    Trường: … học sinh?

    Bước 2 : Lập kế hoạch giải

    – Làm thế nào để tính được số HS của trường Vạn Thịnh? ( Tìm 1% số HS của

    trường là bao nhiêu em)

    – Số HS khá chiếm 92% số HS toàn trường. Vậy số HS toàn trường là bao nhiêu

    phần trăm? ( 100%)

    – Tìm số HS toàn trường ta làm thế nào? ( lấy số HS của 1% nhân với 100)

    Bước 3: Giải bài toán

    Bài giải

    16

    Trường Vạn Thịnh có số học sinh là:

    552 × 100 : 92 = 600 ( học sinh)

    Đáp số: 600 học sinh

    Bước 4: Thử lại

    – Hướng dẫn học sinh thử lại bài toán ( lấy số học sinh toàn trường chia cho 100 rồi

    nhân với 92) 600 : 100 × 92 = 552

    4/ Hiệu quả của sáng kiến

    Qua quá trình hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn theo hướng đi trên. Tôi nhận

    thấy năm học 1010 – 2011 học sinh ở lớp 5A đã nắm chắc được trình tự giải bài toán về

    Tìm số trung bình cộng; Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó; Bài toán

    tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó; Bài toán về tỉ số phần trăm. Các em đã biết

    tóm tắt bài toán, biết tìm lời giải và phép tính đúng theo yêu cầu của mỗi bài tập theo các

    dạng toán đã học. Kết quả học tập môn Toán được nâng lên đáng kể. Cụ thể như sau:

    Thời

    gian

    kiểm

    tra

    3

    12

    3

    12

    9

    2

    8

    3

    6

    1

    4

    1

    0

    0

    0

    36

    8

    10

    40

    7

    4

    10

    40

    8

    0

    9

    36

    8

    32

    2

    8

    28

    3

    12

    32

    5

    20

    32

    8

    32

    17

    Như vậy, với việc áp dụng kinh nghiệm “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học

    sinh ở lớp 5″ Bản thân tôi đã lựa chọn phương pháp và sử dụng các hình thức dạy học phù

    hợp với đặc điểm, đối tượng học sinh gắn với từng nội dung của từng bài cụ thể. Nhờ đó

    mà kết quả học tập môn toán của lớp tôi được nâng lên rõ rệt so với đầu năm học.

    PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    18

    2.4. Đối với phụ huynh

    Mua đủ sách giáo khoa cho học sinh và các loại sách tham khảo về môn Toán.

    2.5. Đối với học sinh

    + Chăm chỉ học tập.

    + Cần rèn luyện tốt phương pháp suy luận lôgic.

    Phượng Mao, ngày 20 tháng 10 năm 2011

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kỹ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5
  • Giải Vở Cùng Em Học Toán Lớp 5 Tập 2 Tuần 28
  • Giải Cùng Em Học Toán Lớp 5 Tập 2 Tuần 21 Trang 13, 16 Hay Nhất Tại Vietjack.
  • Cách Giải Các Bài Toán Về Ứng Dụng Tỉ Lệ Bản Đồ Lớp 5
  • Các Bài Toán Giải Bằng Phương Pháp Giả Thiết Tạm Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kỹ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5
  • Giải Bài Tập Trang 52 Sgk Toán 3: Luyện Tập Bài Toán Giải Bằng Hai Phép Tính
  • Bài 1, 2, 3, 4 Trang 52 Sgk Toán 3: Luyện Tập Trang 52 Sgk Toán Lớp 3…
  • Giải Bài Tập Toán 3 Trang 52 Tập 1 Câu 1, 2, 3, 4
  • Giải Bài Luyện Tập Trang 52 Sách Giáo Khoa Toán Lớp 3
  • Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    BÁO CÁO NỘI DUNG SÁNG KIẾN

    Họ và tên tác giả : Nguyễn Văn Trường.

    Trình độ chuyên môn: Trung cấp sư phạm.

    Chức vụ: Giáo viên.

    Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Dương Thành.

    1. Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến:

    Bậc Tiểu học là bậc đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách ở học sinh.

    Đây là bậc cung cấp những tri thức ban đầu về tự nhiên, xã hội, trang bị những

    phương pháp kỹ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn bồi

    dưỡng tình cảm thói quen và đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam. Trong các

    môn học ở Tiểu học đều có mối quan hệ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Cùng với

    những môn học khác môn Toán có vị trí rất quan trọng. Môn Toán giúp học sinh

    Tiểu học phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng và phát triển những thao tác tư duy trí

    tuệ cần thiết để nhận thức thế giới như: khái quát hoá, trừu tượng hoá. Nó rèn

    luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn

    đề,… giúp học sinh phát triển trí thông minh, tư duy học tập, linh hoạt, sáng tạo.

    Đặc biệt toán có lời văn có một vị trí rất quan trọng trong chương trình toán phổ

    thông.

    Trong dạy – học Toán ở Tiểu học, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí quan

    trọng. Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy

    động tích cực các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong

    nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu

    ra một cách tường minh và trong chừng mực nào đó, phải biết suy nghĩ năng động,

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Với những lý do đó, học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói

    riêng, việc học toán và giải toán có lời văn là rất quan trọng và rất cần thiết. Từ đó

    tôi đã lựa chọn và thực hiện sáng kiến “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học

    sinh lớp 5 ” để nghiên cứu, với mục đích là:

    Tìm hiểu những kỹ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải toán có lời

    văn cho học sinh lớp 5 và hướng dẫn học sinh giải cụ thể một số bài toán, một số

    dạng toán có lời văn ở lớp 5, từ đó đúc rút kinh nghiệm, đề xuất một số ý kiến góp

    phần nâng cao chất lượng dạy – học giải toán có lời văn.

    – Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực

    hành đã học, rèn luyện kỹ năng tính toán bước tập được vận dụng kiến thức và rèn

    luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn.

    – Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và

    kỹ năng suy luận, khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi.

    Rèn luyện cho học sinh những đặc tính và phong cách làm việc của người lao

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    2

    bể, giờ thứ hai chảy vào

    15

    1

    bể. Hỏi trung bình mỗi giờ vòi nước đó chảy vào được bao nhiêu phần bể?

    5

    ( Bài 3 trang 32- SGK Toán 5 )

    Bước1: Tìm hiểu đề

    – Cho học sinh tự đọc đề bài nhiều lượt.

    – Hướng dẫn học sinh nắm các dữ liệu bài toán.

    +) Bài toán cho biết gì?

    (Giờ đầu chảy

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Giờ hai:

    TB 1 giờ:… phần bể?

    Bước 2: Lập kế hoạch giải:

    Muốn tìm trung bình mỗi giờ vòi nước chảy được bao nhiêu phần bể ta làm

    thế nào? ( Ta lấy giờ đầu cộng giờ hai rồi chia cho 2)

    Bước 3: Giải bài toán:

    Bài giải

    Trung bình mỗi giờ vòi nước chảy được là:

    ((

    Đáp số:

    Bước 4: Thử lại.

    Muốn thử lại bài toán ta làm thế nào? ( lấy

    b. Dạy bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó:

    Đối với bài toán này tôi đã hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước giải.

    – Xác định tổng của hai số cần tìm .

    – Xác định tỉ số của hai số phải tìm.

    – Vẽ sơ đồ.

    – Tìm tổng số phần bằng nhau.

    – Tìm giá trị 1 phần .

    – Tìm mỗi số phải tìm theo số phần được biểu thị.

    * Ví dụ:Tổng của hai số là 80. Số thứ nhất bằng

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    +) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm 2 số đó)

    – Tóm tắt bài toán:

    Hãy nêu cách vẽ sơ đồ bài toán? ( Dựa vào tỉ số của hai số, ta có thể vẽ sơ đồ bài

    toán. Tỉ số của số thứ nhất và số thứ hai là

    7

    , nếu số thứ nhất là 7 phần thì số thứ

    9

    hai sẽ là 9 phần như thế )

    Bước 2: Lập kế hoạch giải.

    – Làm thế nào để tìm được hai số đó? ( Tính tổng số phần bằng nhau, sau đó

    tìm số thứ nhất số thứ hai)

    – Dựa vào sơ đồ em có thể tìm số nào trước ?

    ( số thứ nhất hoặc số thứ hai trước đều được).

    – Em tìm số thứ nhất bằng cách nào? ( tính tổng số phần sau đó lấy tổng chia

    cho tổng số phần rồi nhân với số phần biểu thị số đó).

    – Tìm được số thứ nhất rồi em làm cách nào để tìm được số thứ hai? (lấy

    tổng trừ đi số thứ nhất).

    Bước 3: Giải bài toán.

    Cách 1: Ta có sơ đồ:

    ?

    Số thứ nhất:

    80

    Theo sơ đồ, tổng số phần bằng nhau là:

    7 + 9 = 16 ( phần)

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Cách 2 : Ta có sơ đồ

    Số thứ hai

    80

    Theo sơ đồ, số thứ hai là:

    80 : ( 9 + 7 ) x 9 = 45

    Số thứ nhất là:

    80 – 45 = 35

    Đáp số: Số thứ hai: 45

    Số thứ nhất: 35

    Bước 3: Thử lại.

    Tổng số thứ nhất và số thứ hai là: 35 + 45 = 80

    Tỷ số giữa số thứ nhất và số thứ hai là:

    c. Dạy bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.

    Đối với dạy toán này tôi cũng hướng dẫn các em làm bài toán theo bước:

    – Xác định hiệu của 2 số .

    – Xác định tỉ số của hai số.

    – Tìm hiệu số phần bằng nhau.

    – Tìm giá trị 1 phần .

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    9

    số thứ hai. Tìm hai số đó.

    4

    ( Bài 1/b – trang 18- SGK Toán 5)

    Bước 1: Tìm hiểu đề.

    Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài và tìm hiểu những dữ liệu đã biết của

    bài, yêu cầu của bài toán.

    +) Bài toán cho biết gì?

    ( Hiệu của hai số là 55. Số thứ nhất bằng

    +) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm 2 số đó)

    – Tóm tắt bài toán.

    Hãy nêu cách vẽ sơ đồ bài toán?

    ( Dựa vào tỉ số của hai số, ta có thể vẽ sơ đồ bài toán. Tỉ số của số thứ nhất và số

    thứ hai là

    9

    , nếu số thứ nhất là 9 phần thì số thứ hai sẽ là 4 phần như thế )

    4

    Bước 2: Lập kế hoạch giải .

    – Làm thế nào để tìm được hai số đó?

    ( Tính hiệu số phần bằng nhau, sau đó tìm số thứ nhất số thứ hai).

    – Làm thế nào để tìm được số thứ hai

    ( Em hãy đi tìm giá trị của 1 phần rồi nhân với số phần biểu thị ).

    – Em tìm giá trị 1 phần bằng cách nào?

    ( Lấy hiệu chia cho hiệu số phần).

    – Tìm được số thứ hai, muốn tìm số thứ nhất em phải làm thế nào?

    ( Lấy số bé cộng với hiệu )

    – Bài nào có thể có mấy cách giải ( 2 cách giải )

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Ta có sơ đồ:

    Số thứ hai:

    55

    Theo sơ đồ, số thứ hai là :

    55 : ( 9 – 4) x 4 = 44

    Số thứ nhất là :

    44 + 55 = 99

    Đáp số: Số thứ hai: 44

    Số thứ nhất: 99

    Cách 2:

    ?

    Ta có sơ đồ:

    Số thứ nhất:

    55

    Theo sơ đồ, số thứ nhất là :

    55 : ( 9 – 4) x 9 = 99

    Số thứ hai là :

    99 – 55 = 44

    Đáp số: Số thứ nhất: 99

    Số thứ hai: 44

    Bước 4: Thử lại.

    Hướng dẫn HS thử lại bài toán.

    Hiệu giữa 2 số là : 99 – 44 = 55

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    52 : 100 × 25 = 13

    * Dạy bài toán tìm một số phần trăm của một số.

    Đối với dạng toán này tôi hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước:

    – Lấy số đó chia cho 100.

    – Nhân thương đó với số phần trăm.

    Hoặc:

    – Lấy số đó nhân với số phần trăm

    – Nhân tích đó với 100.

    * Ví dụ :

    Một lớp học có 32 học sinh, trong đó số học sinh 10 tuổi chiếm 75%, còn lại

    là học sinh 11 tuổi. Tính số học sinh 11 tuổi của lớp học đó.

    (Bài 1 – trang 77 – SGK Toán 5)

    Bước 1: Tìm hiểu đề.

    – Tôi hướng dẫn học sinh đọc đề toán nhiều lần, nhấn mạnh những dữ kiện

    cho trước và yếu tố cần tìm.

    +) Bài toán cho biết gì? ( lớp học có 32 học sinh, số học sinh 10 tuổi chiếm

    75% còn lại là HS 11 tuổi).

    +) Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tính số học sinh 11 tuổi của lớp học đó)

    – Tóm tắt bài toán:

    Lớp học: 32 học sinh

    HS 10 tuổi: 75%

    HS 11 tuổi:… học sinh

    Bước 2: Lập kế hoạch giải:

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Số học sinh 10 tuổi là:

    32 × 75 : 100 = 24 (học sinh )

    Số học sinh 11 tuổi là:

    32 – 24 = 8 ( học sinh)

    Đáp số: 8 học sinh.

    Cách 2:

    Số học sinh 10 tuổi là:

    32 : 100 × 75 = 24 (học sinh )

    Số học sinh 11 tuổi là:

    32 – 24 = 8 (học sinh)

    Đáp số: 8 học sinh

    Bước 4: Thử lại.

    Hướng dẫn học sinh thử lại: 8 + 24 = 32

    * Dạy bài toán tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của nó.

    Đối với bài toán này tôi đã hướng dẫn giải bài toán theo các bước giải:

    – Lấy giá trị phần trăm chia cho số phần trăm.

    – Nhân thương đó với 100.

    Hoặc: – Lấy giá trị phần trăm nhân với 100.

    – Lấy tích chia cho số phần trăm.

    * Ví dụ: Số học sinh khá của trường Vạn Thịnh là 552 em, chiếm 92% số học sinh

    toàn trường. Hỏi trường Vạn Thịnh có bao nhiêu học sinh?

    (BT1 – trang 78 – SGK Toán 5 )

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Kết quả

    Điểm 3 – 4

    Điểm 5 – 6

    Điểm 7 – 8

    Điểm 9 – 10

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    28

    0

    0

    2

    7,1

    11

    39,3

    8

    28,6

    7

    25

    28

    0

    0

    0

    0

    6

    21,4

    12

    42,9

    10

    35,7

    28

    0

    0

    0

    0

    7

    25

    7

    25

    14

    50

    28

    0

    0

    0

    0

    6

    21,4

    8

    28,6

    14

    50

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Điểm 7- 8

    Điểm 5- 6

    Điểm 3- 4

    Điểm 1- 2

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    5

    17,9

    6

    21,4

    16

    57,1

    1

    3,6

    0

    0

    Kiểm tra cuối học kì I, năm học: 2013- 2014.

    Điểm 9- 10

    Điểm 7- 8

    Điểm 5- 6

    Điểm 3- 4

    Điểm 1- 2

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    8

    28,6

    10

    35,7

    10

    35,7

    0

    0

    0

    0

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Điểm 7- 8

    Điểm 5- 6

    Điểm 3- 4

    Điểm 1- 2

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    14

    50

    7

    25

    7

    25

    0

    0

    0

    0

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Báo cáo: Sáng kiến kinh nghiệm ” Rèn kỹ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 5″

    Bỏo cỏo: Sỏng kin kinh nghim Rốn k nng gii Toỏn cú li vn cho hc sinh lp 5

    Dơng Thành, ngày 20 tháng 5 năm

    2014.

    Ngi bỏo cỏo:

    Nguyễn Văn Trờng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vở Cùng Em Học Toán Lớp 5 Tập 2 Tuần 28
  • Giải Cùng Em Học Toán Lớp 5 Tập 2 Tuần 21 Trang 13, 16 Hay Nhất Tại Vietjack.
  • Cách Giải Các Bài Toán Về Ứng Dụng Tỉ Lệ Bản Đồ Lớp 5
  • Các Bài Toán Giải Bằng Phương Pháp Giả Thiết Tạm Lớp 5
  • Giải Vở Bài Tập Toán Lớp 5 Tập 1 Trang 98 Câu 1, 2, 3, 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 4 Khắc Phục Các Lỗi Khi Thực Hiện Giải Toán Có Lời Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Rèn Kỹ Năng Giải Bài Toán Có Lời Văn Liên Quan Đến Tỷ Số
  • Skkn Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Luận Văn Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Đề Thi Violympic Toán Tiếng Anh Lớp 4 Vòng 9 Có Đáp Án
  • Đất nớc ta đang chuyển mình bớc vào thế kỉ XXI – Thế kỷ của khoa học và công nghệ. Nó đòi hỏi con ngời không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Để có những con ngời có trình độ, năng lực thì ngành giáo dục – đào tạo có một vai trò vô cùng quan trọng. Trên thực tế đã có biết bao thầy giáo, cô giáo đang ngày dêm trăn trở: ” Dạy học cái gì?”, “Dạy học nh thế nào?” .

    Trong quá trình giảng dạy tôi luôn có ý thức tìm hiểu những khó khăn khi học giải toán có lời văn của học sinh. Từ đó có một số biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lợng giờ dạy. Đồng thời củng cố về nghiệp vụ chuyên môn.

    Dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 là một mạch kiến thức vô cùng quan trọng và khó khăn.Mục tiêu là giúp các em có kĩ năng thực hiện các dạng toán mà chơng trình yêu cầu. Đây là một vấn đề không hề mới nhng lại tơng đối phức tạp đối với các chúng tôi gặp các bài toán giải các em thờng lúng túng rồi dẫn đến làm sai, ngại làm, nhất là đối với một bộ phận học sinh có khả năng tiếp thu chậm, trí nhớ kém. Có thể nói dạy học giải toán là: “Hòn lửa thử vàng” của dạy học toán ở tiểu học. Vì vậy, để giúp học sinh tháo gỡ vớng mắc này tôi luôn trăn trở và mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài với tiêu đề : “Giúp HS lớp 4 khắc phục các lỗi khi thực hiện giải toán có lời văn. ”

    A: Phần Mở đầu. I Lí do chọn đề tài. Đất nớc ta đang chuyển mình bớc vào thế kỉ XXI - Thế kỷ của khoa học và công nghệ. Nó đòi hỏi con ngời không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Để có những con ngời có trình độ, năng lực thì ngành giáo dục - đào tạo có một vai trò vô cùng quan trọng. Trên thực tế đã có biết bao thầy giáo, cô giáo đang ngày dêm trăn trở: " Dạy học cái gì?", "Dạy học nh thế nào?" . Trong quá trình giảng dạy tôi luôn có ý thức tìm hiểu những khó khăn khi học giải toán có lời văn của học sinh. Từ đó có một số biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lợng giờ dạy. Đồng thời củng cố về nghiệp vụ chuyên môn. Dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 là một mạch kiến thức vô cùng quan trọng và khó khăn.Mục tiêu là giúp các em có kĩ năng thực hiện các dạng toán mà chơng trình yêu cầu. Đây là một vấn đề không hề mới nhng lại tơng đối phức tạp đối với các chúng tôi gặp các bài toán giải các em thờng lúng túng rồi dẫn đến làm sai, ngại làm, nhất là đối với một bộ phận học sinh có khả năng tiếp thu chậm, trí nhớ kém. Có thể nói dạy học giải toán là: "Hòn lửa thử vàng" của dạy học toán ở tiểu học. Vì vậy, để giúp học sinh tháo gỡ vớng mắc này tôi luôn trăn trở và mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài với tiêu đề : "Giúp HS lớp 4 khắc phục các lỗi khi thực hiện giải toán có lời văn. " II. Mục đích nghiên cứu: 1.Nghiên cứu những thực trạng việc học giải toán có lời văn của học sinh lớp 4. 2.Những giải pháp giúp học sinh khắc phục những sai lầm khi thực hiện giải toán có lời văn. III. Nhiệm vụ nghiên cứu: 1.Nghiên cứu cơ sở luận: + Ngiên cứu, xác định nội dung, phơng pháp, mức độ yêu cầu về việc dạy học giải toán có lời văn. + Nghiên cứu nhiều tài liệu để tìm ra cơ sở luận của dạy học giải toán có lời văn. 2. Nghiên cứu thực tiễn: + Tìm hiểu một số lỗi học sinh thờng mắc phải để đa ra biện pháp khắc phục. + Thực nghiệm s phạm xác định hiệu quả các biện pháp khắc phục việc giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4. IV. Khách thể và đối tợng nghiên cứu: 1.Nghiên cứu đối với học sinh lớp 4 của Trờng tiểu học Thiệu Phúc. 2.Đối tợng nghiên cứu : Nghiên cứu quá trình giải toán có lời văn và những sai lầm học sinh thờng mắc phải khi thực hiện. V. Giả thiết khoa học: Nếu trong quá trình dạy học, giáo viên biết phân loại học sinh , dự đoán các lỗi thờng mắc và có hớng khắc phục thì sẽ giúp học sinh thực hiện giải toán có lời văn chính xác hơn. VI. .Phơng pháp nghiên cứu: 2.Điều tra thực trạng. 3.Dạy thử nghiệm. 4.Khảo sát đối tợng học sinh thực nghiệm qua các đề kiểm tra. VII.Giới hạn nghiên cứu đề tài. Đề tài đợc tập trung nghiên cứu về những sai lầm học sinh thờng mắc phải khi thực hiện phần giải toán có lời văn ở lớp 4 của Trờng tiểu học Thiệu Phúc. VIII. Cấu trúc của đề tài. Chơng 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu. Chơng 2: Thực trạng và các biện pháp khắc phục. Chơng 3: Thực nghiệm s phạm và những đề xuất. * * * * * * Phần B: Nội dung. Chơng I: Cơ sở lí luận của vấn đề. 1. Cấu trúc nội dung của phần giải toán có lời văn ở lớp 4. Chơng trình giải toán có lời văn ở lớp 4 đáp ứng việc hệ thống hoá, khái quát hoá nội dung, kiến thức và những nhu cầu của cuộc sống để học sinh dễ dàng thích nghi hơn khi vào đời. Lớp 4 là lớp đầu tiên của giai đoạn quan trọng, hoàn thành chơng trình phổ cập tiểu học cho trẻ em, tạo cơ sở cho các em tiếp tục học lên trung học, vừa chuẩn bị kiến thức kĩ năng cần thiết để các em có thể bớc vào cuộc sống lao động. Yêu cầu cơ bản của phần giải toán có lời văn ở lớp 4. Học xong phần này học sinh biết giải các bài toán phức kết quả 3 bớc tính với nội dung gần gũi với cuộc sống học sinh , trong đó có các dạng toán sau: + Tìm số trung bình cộng. + Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó. +Tìm 2 số biết tổng và tỉ số của 2 số đó. +Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó. Biết trình bày bài giải đầy đủ bằng các câu, lời giải, các phép tính và đáp số. Có thể viết gộp các phép tính của một bớc tính thành một dãy tính dựa vào các quy tắc hoặc công thức đã học. 2. Những yếu tố cần thiết về kiến thức và kĩ năng thuộc phạm vi đề tài. Đối với dạy học toán có lời văn ở lớp 4 nhất là giải toán hợp, học sinh cần đạt đợc những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng sau: * Yêu cầu 1: Biết phân tích bài toán hợp thành bài toán đơn. Biết phát hiện về quan hệ logic giữa các bài toán đơn hợp thành. Đa các bài toán hợp về các bài toán đơn đã biết cách giải. Diễn tả tổng hợp bài toán dới dạng tóm tắt ( tiến tới bằng ngôn ngữ, kí hiệu) và khi cần thiết minh họa bằng sơ đồ ) Từng bớc biến đổi bài toán, đa bài toán phức về các bài toán đơn giản mà em đã học. Khi giải bất kì một bài toán giải dạng nào, HS phải biết thực hiện thói quen biến đổi bài toán - Các bớc giải: + Tìm hiểu kĩ đề bài. + Lập kế hoạch giải. + Thực hiện kế hoạch giải. + Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải. Chú ý tới việc tìm hiểu kĩ đề bài và kiểm tra bài giải. * Yêu cầu 2: Biết vận dụng phơng pháp phân tích tổng hợp trong quá trình tìm, xây dựng kế hoạch giải và thực hiện kế hoạch giải. Trình bày bài giải một cách rõ ràng , mạch lạc. * Yêu cầu 3: Biết vận dụng các phơng pháp chung và thủ thuật giải toán ở tiểu học. * Yêu cầu 4: Từng bớc nâng cao dần khả năng t duy , suy luận và nâng cao hứng thú tìm nhiều cách giải cho bài toán. ChơngII. Thực trạng và biện pháp khắc phục. 1.Khảo sát thực trạng: Sau khi dạy xong phần giải toán ở lớp 4 trong năm học 2007 - 2008 tôi đã tiến hành cho HS làm bài kiểm tra để lấy kết quả điều tra thực trạng đối với 2 đề bài là 2 dạng toán điển hình ở lớp 4. Đề bài: Bài 1: Một cửa hàng bán 1250 kg gạo nếp và tẻ.Biết số kg gạo nếp bán bằng số kg gạo tẻ.Tính số kg gạo mỗi loại đã bán? Bài 2: Đặt đề toán và giải theo tóm tắt sau: Tóm tắt: ? cây ? cây Biểu điểm: Bài 1: Tóm tắt đúng: 1 điểm Mỗi câu lời giải đúng: 0, 5 điểm Mỗi phép tính đúng: 0,75 điểm ( kèm danh số) Đáp số đúng 0, 25 điểm Bài 2: Đặt đúng đề toán theo tóm tắt : 1 điểm Mỗi câu lời giải đúng : 0,5 điểm Mỗi phép tính đúng: 0,75 điểm ( kèm theo danh số) Đáp số đúng: 0,25 điểm Đáp án: Bài 1: ? kg ? kg Tổng số phần bằng nhau là: 1 + 4 = 5 ( Phần) Số kg gạo nếp là: 1250 : 5 = 250 ( kg) Số kg gạo tẻ là: 1250 - 250 = 1000 ( kg) Đáp số : gạo nếp: 50 ( kg) gạo tẻ : 1000 ( kg) Bài 2: Đặt đề toán: Trong vờn trồng cam và dứa , số cây cam bằng số cây dứa và kém sốcây dứa 60 cây. Tính số cây cam và cây dứa ? Bài giải: Hiệu số phần bằng nhau là: 4 - 1 = 3 ( phần) Số cây cam là: 60 : 3 = 20 ( cây) Số cây dứa là: 20 + 60 = 80 (cây) Đáp số: Số cây cam: 20 cây Số cây dứa : 80 cây Sau khi chấm tôi thấy , khi giải toán các em thờng mắc phải những sai lầm và kết quả đạt đợc nh sau: Sau khi chấm bài, tôi thấy kết quả nh sau Tôi đã tổng hợp điểm nh sau 2. Những sai lầm, nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Dạng 1: Viết câu lời giải sai so với phép tính hoặc câu lời giải thừa hoặc thiếu chữ . VD: Đề 1: HS viết lời giải sai so với phép tính Số kg gạo nếp và tẻ là: 1250 : 5 = 250 ( kg) Số kg gạo mỗi loại là: 1250 - 250 = 1000 ( kg) Đáp án đúng phải là: Số kg gạo nếp là: 1250 : 5 = 250 ( kg) Số kg gạo tẻ là: 1250 - 250 = 1000 ( kg) Hay HS viết thừa chữ ở câu lời giải: Đề 2: Tính số cây cam là: 60 : 3 = 20 ( cây) Tính số cây dứa là: 20 + 60 = 80 (cây) Hoặc có khi HS lại viết câu lời giải cuối: Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu kg đờng là : * Nguyên nhân: Do các em cha hiểu kĩ yêu cầu của bài toán nên cha nắm đợc mối quan hệ logic giữa phép tính và lời giải. * Biện pháp: + Tôi yêu cầu HS đọc kĩ đề bài. Xác định đúng yêu cầu của đề toán bằng cách đặt các câu hỏi dạng; - Bài toán yêu cầu ta tìm gì? - Muốn tìm đợc ta ....phải làm gì?Làm phép tính gì? - Vậy lời giải tơng ứng là gì? + Khi chữa bài tôi thờng ghi ra bảng phụ những câu lời giải, phép tính không tơng ứng để HS phát hiện và sửa lại cho đúng. + Đối với các câu hỏi thừa hoặc thiếu. Tôi hớng dẫn HS dựa vào các câu hỏi lợc bỏ đi các từ " hỏi" thay từ " bao nhiêu" bằng từ " số" và thêm vào cuối câu hỏi từ " là".Sau đó tôi yêu cầu HS trả lời miệng câu lời giải nhiều lần. Từ đó tạo cho các em thói quen sử dụng câu hỏi chính xác hơn. Dạng 2: Đối với các bài toán hợp các em chỉ giải bằng một phép tính đơn giản. VD: Bài 5 trang 139 SGK Toán 4: Một kho chứa 23 450 kg cà phê. Lần đầu lấy ra 2710 kg cà phê, lần sau lấy ra gấp đôi lần đầu. Hỏi trong kho còn lại bao nhiêu ki - lô - gam cà phê ? HS phải xác định đây là dạng toán hợp giải bằng 2 phép tính nhng có em chỉ giải bằng một phép tính đơn giản: Trong kho còn lại số kg cà phê là: 23 450 - 2710 = 20 740 ( kg) Đáp số: 20740 kg * Nguyên nhân: + Do các em không hiểu đề bài . Đọc lớt qua bài là làm ngay không cần phân biệt đợc đâu là dữ liệu, đâu là điều kiện và đâu là ẩn số. +Do các em cha biết phân tích bài toán hợp thành các bài toán đơn để giải * Biện pháp: + Trớc hết tôi yêu cầu HS đọc kĩ đề bài tự tóm tắt đợc bài toán theo các câu hỏi dạng: -Bài toán cho ta biết gì? Bài toán yêu cầu ta tìm gì? Đối với một số bài toán dạng Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó, Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó, Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó HS cần tóm tắt theo sơ đồ đoạn thẳng và chia tỉ lệ cho chính xác. + Khi HS đã tóm tắt đợc bài toán tôi yêu cầu các em đọc lại đề bài dựa vào tóm tắt để các em hiểu kĩ hơn yêu cầu của bài. + Tôi yêu cầu HS xác định đợc bài toán đó thuộc dạng toán nào chúng ta đã học để giúp các em nhớ lại cách làm , các phép tính có trong bài toán chứ không thể chỉ làm 1 phép tính đơn giản đối với các bài toán hợp. + Tạo cho các em thói quen tìm và xây dựng kế hoạch giải toán theo phơng pháp phân tích, tổng hợp và giải theo sơ đồ phân tích đi lên, tách bài toán hợp thành các bài toán đơn bàng hệ thống câu hởi tơng ứng. Từ đó HS nắm đợc trình tự giải toán bắt đầu từ đâu? Trả lời nh thế nào? Đơn vị kèm theo là gì? + Tôi thờng xuyên ra các bài toán giải vào đầu tiết học tăng buổi để các em tập trung vào làm sau đó mới yêu cầu đến các bài toán con vì nhiều em khả năng tập trung cha cao, nhiều em còn có trí nhớ kém nên rất ngại làm toán giải. Dạng 3: Câu trả lời sai nhng đơn vị kèm theo đúng hoặc câu trả lời đúng nhng đơn vị kèm theo lại sai. VD: Đề 2: Lời giải đúng là : " Số cây cam có là" thì đơn vị kèm theo là " cây" nhng HS lại viết đơn vị kèm theo là " cam" * Nguyên nhân: Do các em không hiểu yêu cầu của bài toán , không biết bắt đầu từ đâu. Nhiều khi cứ làm nhng không hiểu làm thế để làm gì? *Biện pháp: + Ngay từ phần tóm tắt đề bài , tôi chú ý yêu cầu HS phải viết đầy đủ đơn vị kèm theo vào từng phần câu hỏi. + Sau khi lập kế hoạch giải , tôi yêu cầu các em trả lời phép tính phải nêu lên đợc đơn vị kèm theo. Nếu các em nêu sai, tôi kịp thời cho HS sửa lại và nhấn mạnh ngay vào câu lời giải là tìm số gì? thì đơn vị kèm theo phải là " chữ" viết ngay sau chữ "số". Chơng III. Thực nghiệm s phạm và những đề xuất. I. Mục đích thực nghiệm Thông qua thực nghiệm , tôi muốn làm rõ một số vấn đề sau: + Giáo viên phải phân loại HS và các lỗi các em thờng mắc để tìm ra cách dạy phù hợp đối với đối tợng những HS đó. + Biến tri thức của sách thành của riêng mình áp dụng dạy cho HS dễ hiểu, dễ nhớ và hiểu rõ bản chất cũng nh trình tự làm một bài toàn giải có lời văn ở lớp 4. II. Nội dung thực nghiệm: Sau 1 năm áp dụng các biện pháp trên đối với 27 HS của lớp 4B năm học: 2008- 2009 . Tôi đã thu đợc kết quả nh bài kiểm tra sau: Đề bài: Bài 1: Một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài gấp 4 lần chiều rộng và hơn chiều rộng 60 m . Tính chu vi của mảnh đất đó. Bài 2: Đặt đề toán và giải theo tóm tắt sau: Tóm tắt ?quyển ? quyển Biểu điểm: Bài 1: Tóm tắt đúng: 1 điểm Mỗi câu lời giải đúng: 0, 3 điểm Mỗi phép tính đúng: 0, 4 điểm ( kèm danh số) Đáp số đúng 0, 5 điểm Bài 2: Đặt đúng đề toán theo tóm tắt : 1 điểm Mỗi câu lời giải đúng: 0, 5 điểm Mỗi phép tính đúng: 0, 75 điểm ( kèm danh số) Đáp số đúng 0, 25 điểm Đáp án: Bài 1: Bài giải: ? m ? m Theo sơ đồ, hiệu số phần bằng nhau là: 4 - 1 = 3 ( phần) Chiều rộng mảnh đất hình chữ nhật là: 60 : 3 = 20 ( m) Chiều dài mảnh đất hình chữ nhật là: 20 + 60 = 80 ( m) Chu vi của mảnh đất hình chữ nhật là: ( 20 + 80 ) x 2 = 200 ( m) Diện tích mảnh đất hình chữ nhật là: 20 x 80 = 1600 ( m2) Đáp số: Chu vi: 200 m. Diện tích:1600 m2 Bài 2: Đặt đề toán: Th viện nhà trờng vừa nhận một số sách Giáo Khoa và sách Tham khảo . Trong đó sách Tham khảo bằng sách Giáo Khoa và ít hơn sách Giáo khoa là 150 quyển . Tính số sách mỗi loại? Bài giải: Hiệu số phần bằng nhau là: 4-1 = 3 (phần) Số sách Giáo Khoa là: 150 : 3 = 50 ( quyển) Số sách Tham Khảo là: 50 x4 = 200 (quyển) Đáp số: sách Giáo Khoa:50 quyển sách Tham Khảo:200 quyển Sau khi chấm bài, tôi thấy kết quả nh sau Tôi đã tổng hợp điểm nh sau Qua kết quả thực nghiệm nh trên, tôi rất hài lòng về các biện pháp khắc phục mà mình đã thực hiện, từ đó giúp cho một bộ phận các em thực hiện đúng các bài toán có lời văn. * * * * * * * * * C: Kết luận và Đề xuất I. Kết luận: Toán giải có lời văn đóng vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức và phát triển khả năng t duy , kĩ năng tính toán cho HS. Kiến thức các dạng toán giải có lời văn tuy không khó đối với HS đại trà song nó lại là vấn đề khó đối với một bộ phận HS có khả năng t duy kém , khă năng tiếp thu chậm. Trong dạy học, giáo viên phải quan tâm đến đối tợng HS có khả năng học toán chậm để phân loại các lỗi thờng mắc và có biện pháp khắc phục để các em có thể tự làm các bài toán giải có lời văn trong chơng trình một cách thành thạo. Giáo viên cần chú ý dành nhiều thời gian cho các em thực hành các bài toán giải có lời văn vào các tiết học phụ đạo. Từ đó giúp các em có hứng thú trong việc học toán . II. Đề xuất: Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng các biện pháp trên để giúp các em " Khắc phục các lỗi thờng mắc khi thực hiện các bài toán giải có lời văn cho HS lớp 4" . Tôi mạnh dạn đa ra một số các đề xuất sau: + Sách giáo khoa cần bỏ bớt một số bài toán không gần gũi với thực tế, đa vào các bài toán phù hợp với kiến thức cuộc sống của các em hơn. + Nhà trờng cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất , phơng tiện dạy học, hỗ trợ giáo viên khi giáo viên sử dụng Phiếu học tập cho HS. + Giáo viên cần quan tâm đến các đối tợng HS yếu, hớng dẫn HS một cách cặn kẽ, dễ hiểu và nhẹ nhàng đối với các em. + Đối với các em có nhiều tiến bộ, giáo viên cần phải khuyến khích động viên kịp thời để các em ngày càng tiến bộ hơn. III. Lời kết: Bằng những kinh nghiệm nhỏ của bản thân và thời gian ngắn, chắc chắn đề tài của tôi còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết. Tôi rất mong đợc sự góp ý chân thành của đồng nghiệp để bài viết của tôi hoàn thiện và đạt kết quả cao hơn. Thiệu Phúc : 20/ 2 / 2009. ý kiến đánh giá của HĐKH Ngời thực hiện ... Hà Thị Nga

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4
  • Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Hs Lớp 4&5 Chuyen De Giai Toan Lop 5 Doc
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4
  • Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4 Với Dạng Bài Toán
  • Các Dạng Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4 Hay Nhất
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Học Sinh Giải Bài Toán Có Lời Văn Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • 252 Bài Toán Luyện Thi Violympic Lớp 3
  • Cách Học Toán Lớp 3 Hiệu Quả Để Phát Huy Khả Năng Của Trẻ
  • Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 3/3 Trường Tiểu Học Trần Bình Trọng Giải Các Bài Toán Có Lời Văn
  • Sang Kien Kinh Nghiem Lop 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 3
  • Chương trình toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn toán ở tiểu học, chương trình này kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy toán lớp 1 ở nước ta. khắc phục một số tồn tại của dạy học toán lớp 1 trong giai đoạn vừa qua, thực hiện những đổi mới về giáo dục toán học lớp 1 nói riêng, ở tiểu học nói chung, để thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh xã hội 2001 đến 2010 đại hội IX của Đảng CSVN đã khẳng định ” Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng thấp kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2022 nước ta cơ bản trở thành một nước CNH- HĐH hoà nhập với các nước trong khu vực”

    Trước những đổi mới kinh tế XH đòi hỏi ngành giáo dục phải làm tốt chức năng Nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Do đó về mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp giáo dục đã được thiết lập lại ở bậc tiểu học nói chung và ở môn toán lớp 1 nói riêng cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nhân loại cùng sự phát triển chung đó- môn toán lớp 1 cũng đã cố nhiều sự thay đổi đáng kể về nội dung, cấu trúc chương trình và đặc biệt đã có sự quan tâm đúng mức đến việc rèn kỹ năng và giải các bài toán.

    biệt đã có sự quan tâm đúng mức đến việc rèn kỹ năng và giải các bài toán. Việc giải toán có lời văn là một việc hết sức khó khăn đối với các em học sinh lớp 1. Các em còn hạn chế về tư duy, ngôn ngữ, chữ viết nên để hoàn thành tốt một bài toán có lời văn phải mất nhiều thời gian và công sức đối với cả thầy và trò. II. Mục đích nghiên cứu. Việc nghiên cứu để tìm ra biện pháp " Hướng dẫn học sinh lớp 1 giải toán có lời văn" nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy góp phần giải quyết những khó khăn mà giáo viên và học sinh mắc phải trong quá trình giải toán đối với học sinh. Giải toán có lời văn là một kỹ năng cần có của học sinh lớp 1 để giúp cho quá trình xuyên suốt tiểu học học sinh có thể giải được các bài toán nhằm giảm bớt sự nhàn chán chỉ bởi những con số và số.Giải toán có lời văn làm khơi dây lòng say mê sáng tạo, năng lực tự vận động trong mỗi học sinh vì vậy việc hướng dẫn giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 có ý nghĩa to lớn trong quá trình giảng dạy của người giáo viên. Việc nghiên cứu giúp giáo viên có sự nhìn nhận đúng hơn, sâu hơn về tầm quan trọng của việc hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, từ đó giáo viên lựa chọn tìm ra những biện pháp tốt hơn, phù hợp hơn đối với đặc trưng môn học để có hiệu quả trong giảng dạy toán. III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Học sinh lớp 1 khu bản Pó In - Trường Tiểu học Chiềng Lương 2 + Tổng số: 16 HS Nam : 8 HS Nữ: 8 HS + Dân tộc: 16 HS Nghiên cứu chương trình toán lớp 1 phần giải toán có lời văn. IV. Phương pháp nghiên cứu. Để tiến hành nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp. 1. Nghiên cứu lý luận 2. Nghiên cứu thực tế - Các tài liệu dạy học - Trao đổi toạ đàm với đồng nghiệp - Thế giới trong ta - Phương pháp thống kê phân loại - Bồi dưỡng Mô Đun chương trìnhGK mới - Phương pháp quan sát hướng dẫn HS - P P độc lập lấy HS làm trung tâm phần 2 nội dung I.Cơ sở lý luận. Giải toán có lời văn là một trong bốn mạch kiến thức cơ bản của môn toán 1 (số và phép - Đo đại lượng - Yếu tố hình học - Giải toán có lời văn ). Mục tiêu của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 nhằm giúp học sinh. - Nhận biết được thế nào là bài toán có lời văn ( Cấu trúc các phần của bài toán ) - Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộng, hoặc một phép tính trừ. Trong đó có bài toán về " Thêm"; " bớt" một số đơn vị. (Viết được bài giải bao gồm: Câu lời giải, phép tính và đáp số). Nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 được sắp xếp thành hai giai đoạn. *Giai đoạn chúng tôi đoạn này " Chuẩn bị học giải toán có lời văn"giai đoạn này nằm trong học kỳ I lớp 1. HS được làm quen với các tình huống của bài toán đựoc diễn tả qua các hình ảnh, tranh vẽ. Yêu cầu của giai đoạn này HS chỉ cầ quan sát tranh. Phan tích nội dung của tranh, rồi viết được phép tính phù hợp ( chưa phải đòi hỏi trình bày lời giải hoàn chỉnh). Hình thức của loại bài tập này là " Viết phép tính thích hợp" ( viết số và phép tính vào 5 ô) * Giai đoạn 2. Giai đoạn "chính thức học giải toán có lời văn"giai đoạn này học chính thức trong học kỳ II của lớp 1. HS được biết thế nào là một bài toán có lời văn ( cấu tạo bài toán gồm 2 phần: Giả thiết (bài toán cho biết gì ?) và kết luận (bài toán hỏi gì ?) ). Từ đó HS biết cách giải và trình bày bài giải các bài toán về " thêm" " bớt" một số đơn vị. Với tầm quan trọng như vậy việc dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1đòi hỏi người giáo viên phải quan tâm giúp đỡ HS rất nhiều. Dạy học cần phải theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học cần tổ chức giờ học dưới dạng các hoạt động học tập, học sinh được phát huy tích cực, chủ động , tự chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên có như vậy kết quả học tập mới được nâng cao. II. Cơ sở thực tiễn. Đơn vị công tác của tôi: Trường Tiểu học Chiềng Lương 2 xã Chiềng Lương là một trường vùng 2 của huyện Mai Sơn với 100% các em là dân tộc "Thái". Mặt bằng dân trí, kinh tế xã hội còn thấp kém, lạc hậu, đọi ngũ giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn đa số đều có ý thức học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh những thuận lợi trên không thể không nói tới, những hạn chế về khả năng nhận thức của học sinh và sự quan tâm của nhiều bậc phụ huynh học sinh . Những hạn chế này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập nói chung đối với môn toán nói riêng và đặc biệt là việc học giải toán có lời văn của học sinh, các em khi học sang giải toán có lời văn đã gặp rất nhiều khó khăn và đói với giáo viên dạy cũng rất vất vả khi giúp các em thực hiện dạng toán này. Trong quá trình giảng dạy tôi thấy được những nguyên nhân dẫn đến những tình trạng trên đó là. *Đối với giáo viên . Giáo viên đã quá quen với phương pháp dạy học truyền thống nên khi áp dụng phương pháp dạy học mới còn rát lúng túng, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh. Cách tổ chức còn vụng về, đơn điệu còn chưa có hệ thống chua gây hứng thú đối với học sinh - giáo vien còn làm việc nhiều dẫn đến học sinh thụ động khi tiếp thu tri thức mới. Giáo viên chưa hình thành được cho học sinh " quá trình"giải toán có lời văn việc hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn rất lúng túng, nhiều khi giáo viên chỉ giảng chung chung rồi cho học sinh tự làm bài, hoạc giáo viên giải lên bảng sau đó cho học sinh chép bài vào vở. *Đối với học sinh. Với 100% các em là con em dân tộc Thái khả năng học vần còn hạn chế hết học kỳ I nhiều em chỉ biết đánh vần chưa đọc thông viết thạo nên việc đọc để hiểu một đề toán là một việc vô cùng khó khăn trong việc đọc, hiểu đề toán rồi việc đặt câu lời giải cho bài toánkhi giải còn khó khăn hơn nhiều. Việc viếtg để trình bày bài toán cũng là vấn đề hết sức hạn chế Schính những điều này dẫn đếnviệc giải toán có lời văn của các em lớp 1 gặp không ít khó khăn. *Đối với phụ huynh học sinh. 100% Phụ huynh học sinh làm nghề nông nghiệp và 70% phụ huynh học sinh không có trình độ học vấn hết tiểu học do đó việc quan tâm, kiểm tra kết quả tự học ở nhà của cá em là hoàn toàn không có. gia đình hầu như phó mặc việc học hành của con em mình cho thầy cô giáo mà thời gian học với thầy cô chỉ có 4 giờ trong một ngày như vậy là các em không được kèm cặp thêm các bài học ở nhà nên chất lượng về việc giải bài toán có lời văn còn nhiều hạn chế. III. Một số chú ý khi hướng dẫn học sinh lớp 1 giải toán có lời văn Hướng dẫn học sinh giải toán Trong chương trình toán 1 từ tuần 23 học sinh mới chính thức học cách giải bài toán có lời văn xong ngay từ tuần 7 đến tuần 16.(bắt đầu từ bài phép cộng trong phạm vi 3, luyện tập) xong hầu hết các tiết dạy về phép cộng, trừ trong phạm vi không quá 10 đều có các bài toán dạng "nhìn tranh nêu phép tính".Để giúp học sinh làm quen với việc , xem tranh vẽ, nêu bài toán bằng lời, nêu câu trả lời và điền phép tính thích hợp vào các ô có sẵn với tình huống trong tranh. Tiếp đó đến tuần 17 học sinh được làm quen với việc đọc tóm tất rồi nêu đề toán bằng lời sau đó nêu cách giải và tự điền số vào phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống. Tiếp theo trước khi chính thức học giải bài toán học sinh được học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn ở tuần 21 - 22. Khi học sinh bắt đầu làm quen với bài toán có lời văn từ tuần 7 đến tuần 16. Giáo viên cần chú ý nhiều đến việc luyện cho học sinh hiểu đề toán, chuẩn bị các câu lời giải để trả lời miệng. Ví dụ. Từ bức tranh " có 7 bạn đang chơi, 2 bạn đang chạy tới" bài 4 trang 77 SGK. Sau khi học sinh điền phép tính vào dãy ô trống 7 + 2 = 9 Giáo viên hỏi tiếp: "Vậy là có tất cả mấy bạn?" để học sinh trả lời miệng " có tất cả 9 bạn" hoặc hỏi " số bạn có tất cả là bao nhiêu?" và học sinh trả lời " số bạn có tất cả là 4" Căn cứ đưa ra các câu hỏi như vậy. Nhiều lần học sinh sẽ quen dần với cách nêu lời giải bằng miệng v à quên dần để sau này viết được câu lời giải cho khi trình bày bài toán. Trong quá trình giải toán có lời văn học sinh thường gặp khó khăn khi đọc để hiểu đề toán nhất là đối với các em dân tộc ngôn ngữ kém đối với trường hợp này giáo viên nêu cho các xem tranh và nêu câu hỏi để các em nhìn vào tran h để trả lời câu hỏi dẫn đến hiểu được đề toán. Ví dụ: Với bài 1trang 177SGK giáo viên có thể hỏi. Em thấy bạn An( bạn gái) có mấy quả bóng ? (có 4 quả bóng) Bạn Bình ( Bạn trai) có mấy quả bóng ?.(3 quả bóng ) Em có bài toán như thế nào ?.( học sinh nêu thành bài toán) *Trường hợp bài toán không có tranh ở sách giáo khoa như bài3(T.122 ) Giáo viên có thể tìm mẫu vật con gà trống, con gà mái để gắn lên bảng hỗ trợ cho học sinh dễ dàng giải được bài toán. Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán giáo viên cần chú ý tổ chức cho học sinh đọc kỹ đề toán hiểu rõ một số khoá quan trọng như " thêm" và "tất cả" hoặc " bớt", bay đi, ăn mất, còn lại,..( có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ ) trong thời kỳ đầu giáo viên lên giúp học học sinh viết tóm tắt sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đay là cách rất tốt để rút học sinh ngầm phân tích đề toán. Sau đó giáo viên giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm chẳng hạn ở bài 2 trang 118 SGK " Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?" Bài toán cho biết gì ? ( lúc đầu có 6 bạn ) Bài toán cho biết gì nữa ? ( sau đó thêm 3 bạn ) Bài toán hỏi gì ? ( có tất cả mấy bạn ) Giáo viên nêu thêm một số câu hỏi để dẫn dắt bài toán vào phần bài giải " Muốn biết tổ em có tất cả em làm phép tính gì ?'' hoặc " muốn biết cả tổ có tất cả mấy bạn em phải làm thế nào?" cũng có thể hỏi " tổ em có tất cả mấy bạn" HS trả lời theo từng cách hỏi của giáo viên để rồi có phép cộng 6 + 3 = 9 Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh tự nêu được 9 này là 9 bạn nên ta viết từ "bạn" vào trong dấu ngoặc đơn 6 + 3 = 9 ( bạn ) Có những trường hợp một số học sinh nhìn vào tranh ở sách giáo khoa để đếm ra kết quả. Vì vậy giáo viên cần xác nhận kết quả đúng song cần hỏi thêm " em tính thế nào ?" ( 6 + 3 + 9 ) sau đó giáo viên nhấn mạnh " Khi giải toán em cần phải nêu được phép tính để tìm ra đáp số nếu chỉ nêu đáp số thì chưa phải là giải toán". 2.Hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải. Trong 3 bước giải bài toán có lời văn ( đặt câu lời giải, làm phép tính, viết đáp số ) thì đặt câu hỏi lời giải là khâu khó khăn nhất đối với học sịnh lớp 1. Giáo viên có thể dùng một trong các cách sau . Ví dụ bài toán ( trang 117 ) Cách 1. Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ từ ( hỏi ) và từ ( mấy con gà ) để câu lời giải ; " nhà An có tất cả. hoặc thêm từ ( là )để có " nhà An có tất cảlà:" Cách 2. Dựa vào dòng cuối cùng của phần tóm tắt coi đó là ( từ khoá) của câu lời giải rồi thêm ví dụ; từ dòng của tóm tắt: " có tất cả.con gà ?" học sinh viết câu lời giải " nhà An có tất cả:" Cách 3. Đưa từ " con gà" ở cuói câu lên đầu thay thế từ" hỏi" và thêm từ " số" ở đầu câu, từ " là" ở cuối câu để có" số Gà nhà An có tất cả là". Cách 4. Giáo viên đưa câu hỏi miệng để học sinh giải được phép tính 5 + 4 = 9 ( con gà ) giáo viên chỉ vào số 9 và hỏi; 9 ở đây là gì ? ( là số gà nhà An có tất cả ) Từ câu trả lời của học sinh Giáo viên giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải; " số gà nhà An có tất cả là:" Cách 5. Giáo viên nêu câu hỏi miệng " nhà An có tất cả mấy con gà ?" để học sinh trả lời miệng: " nhà An có tất cả 9 con gà" rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải: ( gồm câu lời giải và phép tính:) Nhà An có tất cả: 5 + 4 = 9 ( con gà ) Một số điều khác cần chú ý khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn. Trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài toán có lời văn giáo viên cần chú ý cho học sinh cách ghi danh số vào phép tính giải và cách ghi đáp số. Ví dụ: Bài 2 ( Trang 121 ) Ghi danh số" bức tranh" sau phép tính giải phải ở trong dấu ngoặc. 14 + 2 = 16 ( bức tranh ) Còn đáp số: 16 bức tranh thì không cần để danh số trong dấu ngoặc đơn nữa: Đáp số: 16 bức tranh. Trong khi hướng dẫn trình bày bài giải cần lưu ý để bài giải rõ ràng, sáng sủa - Giáo viên hướng dẫn cách trình bày bài giải như sau. Ví dụ: Bài 3 ( trang 124) Khi trình bày ta từ " bài giải" ra giữa phần giấy ta định trình bày bài giải - Viết câu lời giải ( tuỳ vào số tiếng trong câu ) sao cho cân đối với từ "bài giải". Viết đáp số sao cho tiếng " đáp" thẳng cột với tiếng 'bài" ở từ " bài giải" cụ thể: Bài giải. Hộp đó có tất cả là: 12 + 3 = 15 ( cái bút ) Đáp số: 15 cái bút. Không nên để học sinh trình bày bài giải theo kiểu: Hộp đó có tất cả là: 12 + 3 = 15 ( cái bút ) Đáp số: 15 cái bút IV. Kết quả. Với trách nhiệm của một người giáo viên trực tiếp dạy lớp 1 tôi mạnh dan j áp dụng. Những biện pháp trên với mong muốn học sinh đạt kết quả tốt hơn trong khi giải các bài toán có lời văn. Qua áp dụng thực tế tôi đã nhận thấy học sinh có nhiều tiến bộ rõ rệt so với kết quả khảo sát của năm trước phần lớn các em đã biết giải toán có lời văn. kết quả như sau. Năm học Số học sinh Số học sinh biết giải toán Số học sinh chưa biết giải toán ghi chú TS Tỉ lệ % TS Tỉ lệ % 2006 - 2007 13 8 61% 5 39% 2007 - 2008 17 14 82% 3 18% Với kết quả cho thấy rằng việc vận dụng đúng đắn phương pháp khi dạy học học sinh giải toán có lời văn thì phần lớn học sinh đều biết cách giải. Qua đó tôi đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm sau nhằm giúp cho hiệu quả dạy học môn toánở lớp 1 được nâng cao. V. Bài học kinh nghiệm Sau khi học hết chương trình lớp 1. Về giải toán học sinh phải biết giải các bài toán đơn về thêm , bớt ( giải bằng một phép tính cộng hoặc trừ ) Và biết trình bày một bài giải gồm: câu lời giải, phép tính và đáp số. Việc dạy toán là một quá trình không nên vội vàng yêu cầu các em phải đọc thông để hiểu đề toán viết được câu lời giải, phép tính và đáp số để có được bài giair hoàn chỉnh ngay từ đầu tuần 2, 3 ,4,24 .Vì thế giáo viên cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước để đến tuần 34, 35 học sinh hoàn thiện được cách giải và trình bày một bài toán có lời văn. Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 chủ yếu là dạy học sinh phương pháp giải toán. Giáo viên không nên làm thay hoặc áp đặt cách giải trước khi cho học sinh suy nghĩ. Tìm tòi ra cách giải. Tránh tình trạng học sinh chỉ cố gắng tìm ra đáp số mà không hiểu quá trình tại sao lại tính được đáp số đó. Cần hình thànhcho học sinh một " quy trình" giải bài toán có lời văn. khuyến khích các em làm quen từng bước tự mình tìm ra cách giải bài toán tập chung vào ba bước cơ bản là: + Phân tích đề toán để biết bài toán cho biết gì ? ( giả thiết của bài toán ) bài toán hỏi gì ? ( kết lụân của bài toán) từ đó tự tóm tắt được bài toán. + trình bày bài giải ( diễn đạt . Bài toán gồm ba phần; Câu lời giải, phép tính và đáp số). *** Một số lưu ý. về phần tóm tắt bài toán yêu cầu học sinh tự đọc bài toán trong sách giáo khoa tìm hiểu bài toán rồi tự nêu hoặc tự tóm tắt bài toán. Trường hợp khó khăn giáo viên có thẻ hướng dẫn để học sinh quen dần với việc phân tích bài toán trước khi giải bài toán. Có thể tóm tắt bài toán bằng lời, việc cho học sinh biết tóm tắt bài toán là rất cần thiết trong quá trình dạy học giải tóan có lời văn ở lớp 1. Tuy nhiên giáo viên không nên ép học sinh phải có phần tóm tắt trong khi trình bày bài giải. Về viết câu lời giải trong phần bài giải, giáo viên phải kiên để học sinh tự diễn đạt câu trả lời bằng lời sau đó tập viết lời giải. Lúc đầu học sinh còn lúng túng, cách diễn đạt còn chưa hay nhưng đủ ý là được. Viết câu lời giải là khó khăn lớn nhất trong khi giải bài toán óc lời văn ở lớp 1. (Câu lời giải vừa phải đúng ý nghĩa toán học vừa phải đúng văn phạm tiếng việt mà với học sinh lớp 1 vừa học qua phần vần, đọc chưa thông, viết chưa thạo ) Do đó giáo vien cần cho học sinh tự trả lời miệng sau đó tập viết câu lời giải ( có thể làm nhiều lần, không nên vội vàng làm thay cho học sinh ). Về viết phép tính giải trong phàn bài giải. với lớp 1, học sinh chỉ giải các bài toán đơn là bài toán giải bằng một phép tính cộng hoặc trừ khi viết phép tính giải học sinh viết phân tích theo hàng ngang ở dưói câu lời giải tương ứng, tên đơn vị viết ở phần cuối, bên phải phép tính và để trong dấu ngoặc. ( ở phần đáp số, tên đơn vị không có dấu ngoặc ). Phần 3 Kết luận chung việc giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 1 là một việc không đơn giản, muốn các em học tốt phần này, đòi hỏi giáo viên phải rất nhiệt tình, sáng tạo, biết cách tổ chức các giờ học sao cho có hiệu quả. Bên cạnh đó, người giáo viên phải tự tìm tòi, phát hiện ra những cách dạy sao cho sự tiếp thu của học sinh đạt kết quả cao nhất. Giáo viên phải có kế hoạch cụ thể cả về các quy định đến phương pháp vận dụng sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Giáo viên chủ nhiệm phải nắm được hoàn cảnh từng đối tượng học sinh để có kế hoạch hỗ trợ, hướng dẫn các em học tốt, khuyến khích các em bằng sự hăng say, hứng thú học tập đạt kết quả cao. Giáo viên ngoài giờ lên lớp cần phải kết hợp với phụ huynh học sinh, hỗ trợ phụ huynh học sinh những phương pháp hướng dẫn giải bài toán cho các con em mình ở nhà góp phần giúp các em khi đến lớp học được rễ ràng hơn. Qua mỗi dạng toán giáo vien cần có kiểm tra đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy và đề ra biện pháp thực hiện tiếp theo để nâng cao chất lưọng dạy và học. Về bản thân tôi sẽ cố gắng học hỏi, tham khảo tài liệu tìm biện pháp tốt hơn nữa để giúp học sinh học tốt môn toán lớp 1 không những phàn giải toán có lời văn mà ở cả các phần khác nữa nhằm nâng cao hiệu qủa dạy học môn toán nói riêng và các môn học khác nói chung. Chiềng lương, ngày.. tháng..năm 2007 Xác nhận của nhà trường Người thực hiện Ngày.tháng..năm 2007 (Họ và tên và chữ ký ) Hiệu trưởng Giáo dục - Đào tạo Mai Sơn Trường Tiêủ học chiềng lương 2 Đề tài Nghiên cứu khoa học về nghiệp vụ sư phạm "Sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải bài toán có lời văn Lớp 1" ơ Chủ đề tài: : Dương Hương Lan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Phương Pháp Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Giáo Án Toán Lớp 1: Giải Toán Có Lời Văn (Tiếp Theo)
  • Gia Sư Lớp 2 Hướng Dẫn Cách Giải Toán Đố
  • Lớp 2 Hướng Dẫn Cách Giải Toán Đố
  • Giải Bài Tập Trang 52 Sgk Toán 3: Luyện Tập Bài Toán Giải Bằng Hai Phép Tính Giải Bài Tập Toán Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Skkn Hướng Dẫn Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Tóm Tắt Và Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4
  • Luận Văn Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Tóm Tắt Và Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5
  • I.1. Lý do chọn đề tài

    Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại văn minh mới. Do vậy người

    lao động ở mọi lĩnh vực trong thời đại ngày nay phải không ngừng học hỏi, trau

    dồi tri thức phải có tầm nhìn xa mang tính chiến lược và đủ chiều sâu để có thể

    giải quyết nhanh chóng những công việc cụ thể. Vì thế ngành giáo dục phải đào

    tạo được đội ngũ những người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, tiếp cận và

    làm chủ được công nghệ tiên tiến, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn

    đặt ra. Đảng và Nhà nước coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, là mục tiêu và là

    động lực của sự phát triển.

    Trước những yêu cầu thực tế đó, chất lượng dạy học trong mỗi trường tiểu

    học là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Đặc biệt nó quyết định đến sự tồn tại, uy

    tín của nhà trường. Chất lượng dạy học ấy phải được thể hiện bằng chất lượng

    toàn diện của các môn học mà các em được học ở cấp Tiểu học. Từ thực tế đó đòi

    hỏi mục tiêu giáo dục trong nhà trường cần phải thay đổi, đặc biệt là việc đổi mới

    về phương pháp dạy học

    eo mục tiêu của bài học và chuẩn kiến thức kỹ năng. Vấn đề đặt ra là dạy thế nào để cho học sinh khá giỏi có khả năng phát triển, học sinh trung bình đạt được yêu cầu tối thiểu một cách vững chắc và có thể vươn lên, học sinh yếu từng bước vươn lên đạt yêu cầu. Chính vì vậy tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh lớp 4A do tôi chủ nhịêm ngay từ đầu năm học. 3. Thực hiện nghiêm túc các quy trình giải toán có văn. Chúng ta đều đã biết hoạt động giải toán có lời văn thường được tiến hành theo 4 bước là : Bước 1 : Tìm hiểu kỹ đầu bài Bước 2 : Lập kế hoạch giải toán. Bước 3 : Thực hiện kế hoạch giải Bước 4 : Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải . Qua nghiên cứu thực để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn đạt hiệu quả ta cần phải tuân thủ quy trình giải toán có lời văn đặc biệt là ở bước 1 và bước 2 Bước 1 có vị trí vô cùng quan trọng, có thể ví như "chiếc chìa khoá" để mở ra cách giải, bởi lẽ có làm tốt bước này thì các bước sau mới đi đúng hướng và đạt kết quả cao. Việc tìm hiểu nội dung bài toán thường thông qua việc đọc bài toán (Dù bài toán cho dưới dạng lời văn hoàn chỉnh hay bằng dạng sơ đồ, tóm tắt). Học sinh cần phải đọc kỹ, hiểu rõ đề toán cho biết gì, cho biết điều kiện gì, bài toán hỏi gì ?. Khi đọc bài toán phải hiểu thật kỹ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường, chẳng hạn "bán đi" , "thưởng cho", " bay đi".Nếu trong bài toán nào có thuật ngữ học sinh chưa rõ thì giáo viên cần hướng dẫn để học sinh hiểu được nội dung và ý nghĩa của từ đó trong bài toán đang làm. Chằng hạn từ "tiết kiệm", "năng suất", "sản lượng"sau đó cho học sinh " thuật lại" vắn tắt bài toán mà không cần đọc lại nguyên văn bài toán. Phải tóm tắt được bài toán. Vì vậy khi dạy bước 1 giải toán có lời văn người giáo viên phải thực hiện các công việc sau : Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 10 - Việc 1: Đọc kỹ đầu bài : trước hết muốn hiểu đầu bài học sinh cần hiểu rõ cách diễn đạt bằng lời văn của bài toán, nắm được ý nghĩa và nội dung của bài. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nêu tóm tắt lại nội dung của bài toán (không cần thuộc lòng). - Việc 2 : Xác định yếu tố cơ bản của bài toán + Dữ kiện : Là cái đã cho, đã biết trong bài , thường được biểu diễn bằng danh số . + Ẩn số : là cái chưa biết cần tìm (là các câu hỏi của bài toán) + Điều kiện : Là quan hệ giữa dữ kiện và ẩn số . Ví dụ : Tuổi chị và tuổi em cộng lại được 36 tuổi. Em kém chị 8 tuổi. Hỏi chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ? (Sách giáo khoa toán 4 - trang 48) Dữ kiện : Tuổi chị và tuổi em cộng lại là : 36 Ẩn số : Chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ? Điều kiện : Em kém chị 8 tuổi. - Việc 3 : Tóm tắt bài toán - Tóm tắt bài toán phải đạt các yêu cầu sau : + Ngắn gọn, đầy đủ + Thể hiện được mối quan hệ logic giữa dữ kiện , ẩn số và điều kiện . + Gợi ý được cách giải Ví dụ : Cách tóm tắt bài toán trên Bước 2 : Lập kế hoạch giải toán Đây là bước phân tích các dữ kiện, điều kiện và câu hỏi( ẩn số)của bài toán nhằm xác lập mối quan hệ giữa chúng và tìm được các phép tính phù hợp. Đây là bước quan trọng quyết định hướng giải bài toán, nếu thực hiện không tốt thì học sinh sẽ bị "lạc lối". Tuổi chị ? tuổi ? tuổi Tuổi em 36 tuổi 8 tuổi tuổi Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 11 Lập kế hoạch giải toán nhằm xác định trình tự giải quyết, thực hiện các phép tính số học. Ví dụ : Để lập kế hoạch giải bài toán trên tôi dùng hệ thống câu hỏi như sau: Cách 1: Tìm số bé ( tuổi em) trước. + Yêu cầu học sinh quan sát kĩ sơ đồ bài toán và suy nghĩ cách giải bài toán - Tuổi chị và tuổi em cộng lại được bao nhiêu? ( 36 tuổi ) - 36 được gọi là gì? ( Tổng ) - Chị hơn em bao nhiêu tuổi? ( 8 tuổi ) - 8 được gọi là gì? ( Hiệu ) - Tính tuổi em giống cách tính số nào trong dạng toán? ( Số bé ) - Muốn biết em bao nhiêu tuổi ta phải tìm gì? ( Tìm hai lần tuổi của em ) - Đã biết hai lần tuổi em muốn tìm tuổi em ta làm thế nào? * Lưu ý: Ta có thể làm gộp bước tính hai lần tuổi em và tuổi em - Tính tuổi chị giống cách tính số nào trong dạng toán? ( Số lớn) - Đã biết tuổi em muốn tìm tuổi chị ta làm thế nào? Bước 3 : Thực hiện kế hoạch giải Dựa vào kế hoạch giải ở trên, cho học sinh thực hiện giải bài toán Ví dụ: Tuổi của em là: ( 36 - 8 ) : 2 = 14 ( Tuổi ) Tuổi của chị là: 14 + 8 = 22 (Tuổi ) Đáp số: Em: 14 tuổi Chị: 22 tuổi Bước 4 : Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải - Cho học sinh tự so sánh bài của mình với bài của bạn để nhận xét về cách giải và cách ghi lời giải của mình và của bạn. Tự nêu ra lỗi sai, sửa sai bài của mình và bài của bạn nếu có. Nêu cách giải, cách viết lời giải khác. Giáo viên theo dõi giúp đỡ những em còn lúng túng, nhận xét tuyên dương các em. 4. Tạo niềm say mê, hứng thú cho học sinh khi học giải toán có lời văn. Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 12 Như chúng ta đã biết trực quan đối với học sinh tiểu học là rất cần thiết không những hỗ trợ việc nắm kiến thức mà nó còn tạo niềm say mê hứng thú cho học sinh. Vì vậy khi giải toán có lời văn tôi luôn cố gắng cho học sinh sử dụng đồ dùng học tập để lĩnh hội kiến thức một cách bản chất hơn. Ngoài ra còn tổ chức các hình thức học tập sinh động như: Trò chơi, sưu tầm những bài toán vui, những bài toán gần gũi với cuộc sống, đọc cho các em nghe, giải thích cho các em cách giải Luôn khuyến khích các em tự sưu tầm đề toán hoặc tự đặt đề toán cho cả lớp giải hoặc tham khảo. Điều quan trọng nhất là khi học sinh chưa lĩnh hội được kiến thức để làm bài ta không nóng vội, gây áp lực cho các em mà phải hướng dẫn từ từ từng bước. Luôn tạo không khí học tập thoải mái cho các em như vậy các em mới tự tin, hứng thú trong học tập, dễ dàng nắm bắt kiến thức tốt hơn. 5. Đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học giải toán nói riêng. Muốn cho các em học tập môn Toán đạt hiệu quả cao đặc biệt là toán có lời văn ở lớp 4, đòi hỏi người giáo viên phải tạo cho học sinh niềm say mê hứng thú học toán. Vì vậy cần phải lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, tự giác cho học sinh, tính hiệu quả của từng bài học, từng đơn vị kiến thức tránh nhàm chán. Tuy nhiên tuỳ vào đối tượng học sinh vào nội dung bài toán để lựa chọn hình thức tổ chức dạy học. Với những bài đơn giản ở mức độ nhận biết để học sinh làm bài cá nhân. Với những bài khó hơn được dự kiện bài toán, cùng đưa ra cách giải, cách trình bày bài giải. Trong một lớp học không thể tránh khỏi tình trạng các đối tượng học sinh khác nhau về trình độ nhận thức. Vì vậy khi dạy chúng ta phải dạy theo đối tượng học sinh, ngoài biện pháp giúp đỡ học sinh yếu thì cần có biện pháp để giúp học sinh khá giỏi được học nâng cao hơn. Trong các tiết dạy học trên lớp, sau khi học sinh khá giỏi hoàn thành các bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên có thể tăng mức độ khó của các bài tập bằng cách: giữ nguyên dữ kiện nhưng tăng yêu cầu ( có thể giải bằng nhiều cách, hỏi thêm một số câu hỏi khó). Giáo viên cũng có thể Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 13 toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; dạng toán Tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của hai số đó. Khi dạy học tuy thuộc trình độ học sinh, giáo viên có thể tăng hoặc giảm số lượng bài toán nâng cao cũng như mức độ nâng cao của từng dạng toán. Song để hướng dẫn được học sinh giải bài toán thì giái viên phải có bài giải mẫu, xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp. Bên cạnh đó giáo viên cần phải chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học và sử dụng có hiệu quả, tạo không khí lớp học thoải mái. Việc kết hợp linh hoạt các hoạt động và hình thức tổ chức dạy học rất quan trọng. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, gợi mở để giúp học sinh tìm ra cách giải của bài toán, giáo viên không làm thay, áp đặt học sinh Mục đích cuối cùng của đổi mới phương pháp nói chung và phương pháp dạy học toán nói riêng là làm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác học tập để lĩnh hội kiến thức nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của bản thân. 6. Giúp học sinh nắm chắc dạng toán. Như nội dung tôi đã trình bày ở trên học sinh lớp 4 thường rất hay nhầm lẫn giữa các dạng toán a. Nhầm lẫn giữa 2 dạng toán: - Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó. - Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó. Vì vậy khi dạy xong dạng toán tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó giáo viên cần phải có những tiết luyện tập tổng hợp cả 2 dạng toán này ( thường thực hiện vào buổi học thứ 2) để học sinh phân biệt rõ, tránh nhầm lẫn khi giải. Ví dụ 1 : Cả hai lớp 4A và 4B trồng được 250 cây. Lớp 4A trồng được ít hơn lớp 4B là 50 cây. Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây?. Ví dụ 2: Cả hai lớp 4A và 4B trồng được 250 cây. Số cây lớp 4A trồng bằng số cây lớp 4B. Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây? - Tôi viết cả 2 đề toán lên bảng và nêu một số câu hỏi: + Các bài toán trên thuộc các dạng toán gì ? ( Ví dụ 1 : tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của hai số đó,Ví dụ 2 : Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó.) 2 3 Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 14 + Dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2 có điểm gì giống và khác nhau ? ( Giống nhau đều cho biết tổng, khác nhau dạng toán ở ví dụ 1 cho biết hiệu, dạng toán ở ví dụ 2 cho biết tỉ số) + Nêu quy trình giải của 2 dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2. b. Nhầm lẫn giữa 2 dạng toán: - Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó. - Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó. Khi dạy xong 2 dạng toán tôi cũng cho học sinh luyện tập tổng hợp cả 2 dạng toán này ( thường thực hiện vào buổi học thứ 2) để học sinh phân biệt rõ, tránh nhầm lẫn khi giải. Ví dụ 1: Lớp 4A và lớp 4B trồng được 250 cây. Số cây lớp 4A trồng bằng số cây lớp 4B. Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây? Ví dụ 2 : Lớp 4A và 4B cùng trồng cây nhân dịp đầu xuân, số cây lớp 4B trồng được nhiều hơn số cây lớp 4A là 100 cây. Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây. Biết rằng số cây lớp 4A trồng được bằng số cây lớp 4B. - Tôi cũng viết cả 2 đề toán thuộc 2 dạng lên bảng và nêu một số câu hỏi: - Các bài toán trên thuộc các dạng toán gì ? (Ví dụ 1 : Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó, ví dụ 2: Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó). + Dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2 có điểm gì giống và khác nhau ? ( Giống nhau đều cho biết tỉ số, khác nhau dạng toán ở ví dụ 1 cho biết tổng của 2 số , dạng toán ở ví dụ 2 cho biết hiệu của 2 số). + Nêu quy trình giải của 2 dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2. + Quy trình giải dạng toán ở ví dụ 1 và dạng toán ở ví dụ 2 có gì giống và khác nhau. Sau đó trong các tiết ôn tập vào các buổi chiều tôi thường kết hợp các dạng toán khác nhau để học sinh nhớ lâu và không bị nhầm lẫn. 7. Giáo viên cần khắc phục cho học sinh một số nhầm lẫn khi thực hiện giải toán có lời văn. Khi học giải toán có lời văn ở lớp 4 học sinh thường mắc một số sai lầm như: 2 3 2 3 Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 15 a. Bài toán có chứa các từ " ít hơn" hay từ " nhiều hơn" học sinh thường nhầm lẫn, ngộ nhận bởi vì các từ này thường gợi ra phép tính cụ thể như :" ít hơn " hoặc " nhiều hơn " gợi ra phép tính cộng hoặc trừ tương ứng .Do không đọc kỹ đầu bài nên một số học sinh đã nhầm lẫn, ngộ nhận khi gặp phải các từ đó dẫn đến việc chọn sai phép tính và kết quả sai Ví dụ: Cả hai lớp 4A và 4B trồng được 600 cây. Lớp 4A trồng được ít hơn lớp 4B là 50 cây. Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây? (SGK toán 4 - trang 47). Do đầu bài có chứa từ " ít hơn " nó gợi cho học sinh làm phép tính trừ. Do nhầm lẫn, ngộ nhận bởi từ " ít hơn" đó nên một số học sinh xác định sai và giải sai bài toán. ( Học sinh bị nhầm khi tính số cây lớp 4B bằng cách lấy 600 trừ đi 50 ) - Biện pháp khắc phục khó khăn trên . + Yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài, diễn tả đầu bài theo ý kiến của mình . + Cần hướng dẫn học sinh xử lý và phát hiện các dữ kiện và điều kiện của bài toán từ đó thấy được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm . + Hiểu đúng các từ " ít hơn" " nhiều hơn" đó. + Lật đi lật lại vấn đề cho học sinh hiểu mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm (lớp 4A ít hơn lớp nào? 600 là số cây của mấy lớp, số cây lớp 4B biết chưa?). Từ đó gợi được cách giải đúng cho học sinh . b. Một số bài toán đầu bài có chứa các yếu tố không tường minh thì học sinh thường không phát hiện ra yếu tố không tường minh đó. Do vậy việc xác định nội dung yêu cầu của đầu bài không chính xác, không đủ dẫn đến giải sai . Ví dụ : Cả hai hộp có 32 gam chè . Nếu chuyển hộp thứ nhất sang hộp thứ hai 4 gam chè thì số gam chè đựng trong mỗi hộp sẽ bằng nhau . Hỏi trong mỗi hộp lúc đầu có bao nhiêu gam chè . Ở bài này phần lớn học sinh không đọc kỹ đầu bài xác định sai điều kiện của đầu bài . Yếu tố không tường minh ở đây là khi chuyển 4 gam chè từ hộp 1 sang hộp 2 thì hai hộp có số gam chè bằng nhau. Phần đông học sinh xác định đúng dạng cơ bản của bài toán là loại toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu. Nhưng xác Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 16 định sai hiệu, đa số học sinh xác định 4 gam là hiệu. Nhưng ở bài này hiệu là 8 gam chứ không phải là 4 gam . Do đó học sinh giải sai bài toán . - Biện pháp khắc phục khó khăn : + Yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài, nêu lại đầu bài theo ý hiểu của mình . + Phân biệt được dữ kiện và điều kiện của đầu bài + Hướng dẫn học sinh phát hiện ra yếu tố không tường minh trong đầu bài: giáo viên đưa ra câu hỏi : Chuyển hộp thứ nhất sang hộp thứ hai 4 gam chè thì số gam chè hộp thứ nhất hơn số gam chè ở hộp thứ 2 là bao nhiêu gam ? Giáo viên hướng dẫn HS phát hiện ra yếu tố không tường minh bằng cách vẽ sơ đồ đoạn thẳng và hướng dẫn học sinh hiểu sơ đồ đoạn thẳng để tìm ra số gam chè hộp thứ nhất hơn hộp thứ hai. So với kết quả học sinh vừa tìm ra ở trên xem nhóm nào đúng, nhóm nào sai. Từ đó học sinh sẽ hiểu bài toán hơn. ? g Hộp 1: ? g 8 g Hộp 2: 4 g c) Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp Giáo viên cần nắm vững chương trình, những kiến thức cơ bản của môn học. Tìm hiểu qua tài liệu, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để mở rộng thêm kiến thức, chuẩn bị bài giảng chu đáo trước khi đến lớp. Sử dụng phương pháp dạy học phù hợp với dạng bài, với đối tượng học sinh. Có đầy đủ đồ dùng dạy và học phục vụ cho môn học. Sử dụng đồ dùng dạy học thực sự có hiệu quả. d) Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Các biện pháp trên có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau. Nếu học sinh nắm chắc kiến thức của từng dạng toán, nhận biết dạng Toán, quy trình giải từng dạng toán một cách chính xác, có trí tưởng tượng phong phú, suy luận logic. Kết hợp với sự định hướng, giúp đỡ của giáo viên, của bạn bè trong qua trình thảo 32 g Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 17 luận nhóm các em sẻ giải đúng các bài toán có lời văn thuộc dạng Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên thì chất lượng môn học sẽ được nâng lên. e) Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Khi chưa áp dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn. Qua kết quả khảo sát và thực tế giảng dạy tôi nhận thấy phần kỹ năng cơ bản về tính toán học sinh khá thành thạo song phần thực hiện kỹ năng giải toán có lời văn còn kém. Các em còn nhầm lẫn cách giải dạng toán này sang dạng toán khác. Vẽ sơ đồ chưa đúng với bài toán. Khi giải viết lời giải chưa phù hợp với phép tính II.4. Kết qủa thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Qua thực tế giảng dạy khi áp dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn nói chung và giải dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; Tìm hai số khi biết tổng ( hiệu ) và tỉ số của hai số đó, ở lớp 4. trong 3 năm vừa qua, chất lượng giải toán có lời văn ở các lớp tôi chủ nhiệm có tiến bộ rõ rệt. Đặc biệt là học sinh tự tin, hứng thú hơn khi học giải toán có lời văn. Kết quả cụ thể như sau : Năm Tổng số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 2011-2012 23 2 8.7 5 21.7 13 56.5 3 13.1 2012- 2013 22 3 13.6 7 31.8 10 45.5 2 9.4 2013-2014 23 5 21.7 9 39.1 9 39.1 0 0 III . PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ III.1. Kết luận: Trước những yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, việc nâng cao chất lượng dạy học là một trong những yêu cầu trọng tâm của chiến lược phát triển giáo dục. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, giáo viên phải không ngừng Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 18 học hỏi, sáng tạo trong giảng dạy, đem hết khả năng và niềm đam mê, lòng nhiệt tình cho công việc thì mới có được những kết quả như mong muốn. Bằng việc nghiên cứu lý luận và qua thực tiễn giảng dạy giải toán có lời văn trong toán 4. Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình; thực hiện nghiêm túc các quy trình giải toán có lời văn; tạo niềm say mê, hứng thú trong giờ học; nắm vững được định hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy toán nói riêng; so sánh cách thực hiện các dạng toán với nhau để khắc phục một số nhầm lẫn khi thực hiện giải toán có lời văn. III.2. Kiến nghị Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Toán nói chung và góp phần rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn nói riêng, tôi xin có một số đề xuất sau đây : a. Đối với nhà trường : - Tăng cường đầu tư nhiều loại sách tham khảo, sách nghiệp vụ để giáo viên có điều kiện nghiên cứu học tập chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao tay nghề. - Duy trì và thực hiện tốt các buổi sinh hoạt chuyên môn có chất lượng và hiệu quả cao. b. Đối với tổ chuyên môn: Thường xuyên tổ chức các chuyên đề "Những sáng kiến hay về cách dạy môn Toán nói chung, hoặc các sáng kiến về cách dạy các dạng toán điển hình ". c. Đối với giáo viên: Phải có kiến thức vững vàng, nắm vững mục tiêu bài học, nội dung cần truyền đạt của từng bài. Thường xuyên trau dồi kinh nghiệm, nhiệt tình, năng động, tâm huyết với nghề. - Khắc phục những khó khăn, tích cực sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học, cương quyết không dạy chay, không nản lòng trước khó khăn, phải rèn luyện cho học sinh thường xuyên liên tục, động viên, khích lệ học sinh kịp thời, nắm bắt tâm lý của từng đối tượng trong lớp. - Thực hiện thường xuyên và nghiêm túc việc đánh giá kết quả học tập của học sinh để có kế hoạch dạy học cho phù hợp. lời văn ở lớp 4. Những ý kiến đó có thể còn thiếu sót, cách giải quyết vẫn còn hạn Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 19 chế, kính mong Ban giám khảo cùng các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để việc dạy học giải toán có lời văn trong Toán 4 đạt kết quả tốt hơn nữa trong thời gian tới. Băng Adrênh, ngày 6 tháng 01 năm 2022 Người viết sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thị Thảo NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách giáo khoa Toán 4 2. Sách giáo viên Toán 4 3. Chuẩn kiến thức kĩ năng Toán lớp 4 4. 200 câu hỏi đáp về dạy toán ở tiểu học; NXB Giáo dục 5. Dạy và học Toán ở Tiểu học theo chương trình mới; NXB Giáo dục Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 21

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giải Sách Giáo Khoa Toán Lớp 9
  • Tài Liệu Luyện Thi Ket
  • Bộ Sách Market Leader 5 Levels (Ebook+Audio)
  • Bài Giải Market Leader 3
  • Bài Giải Market Leader 1
  • Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 2 Giải Toán Có Lời Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Con Học Toán Lớp 2 Nhanh Tiến Bộ
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1
  • Skkn Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 2 Có Hiệu Quả
  • Các Bài Toán Lớp 6 Nâng Cao Thường Gặp Có Lời Giải
  • 1

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    A. ĐẶT VẤN ĐỀ

    I.LỜI MỞ ĐẦU

    nghiệp vụ do nhà trường tổ chức. Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, viết

    được tóm tắt, nêu được câu lời giải hay, phép tính đúng. Điều đó đòi hỏi rất nhiều

    công sức và sự nỗ lực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp .

    Là một giáo viên đã có nhiều năm trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy ở khối

    lớp 2, qua kinh nghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng

    nghiệp, tôi đã rút ra được: ” Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có

    lời văn” để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung và

    đối với học sinh lớp 2 nói riêng.

    Trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được

    sự góp ý, nhận xét của Hội đồng khoa học, của các đồng nghiệp.

    1

    1

    2

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    giải toán mà học sinh rèn luyện được phong cách của người lao động mới: Làm

    việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công việc.

    Thực tế qua trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 2, toi nhận thấyhọc sinh khi giải

    các bài toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác. Các em

    2

    2

    3

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có nhiều em làm phép tính

    chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời

    giải không phù hợp với đề toán đặt ra. Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu

    lời giải còn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp

    số.

    Việc đặt lời giải ngay từ lớp 1, 2 sẽ là một khó khăn lớn đối với mỗi giáo

    viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 1, 2 nhất là những tuần đầu dạy toán có lời văn ngay

    ở việc giúp các em đọc đề, tìm hiểu đề…Một số em mới chỉ đọc được đề toán chứ

    chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi thầy nêu: Bài toán cho biết gì ?…Đến

    khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải…

    Những nguyên nhân trên không thể đổ lỗi về phía học sinh 100% được mà một

    phần lớn đó chính là các phương pháp, cách áp dụng, truyền đạt của những người

    thầy.

    Đây cũng là lý do mà tôi chọn đề tài này, mong tìm ra những giải pháp nhằm

    góp phần nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 nói riêng và

    trong môn toán 2 nói chung. Để từ đó, các em có thể thành thạo hơn với những bài

    toán có lời văn khó và phức tạp ở các lớp trên.

    III. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    1. Thực trạng về kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 2.

    a. Thực trạng chung của nhà trường.

    * Thuận lợi:

    Nhà trường được sự quan tâm của chính quyền địa phương, của hội phụ huynh

    học sinh.

    Ban giám hiệu nhà trường năng nổ nhiệt tình, sáng tạo luôn chỉ đạo sát sao việc

    dạy học của giáo viên và học sinh.

    Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ .

    Về học sinh: nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập.

    3

    3

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    Bên cạnh những thuận lợi trên nhà trường còn gặp phải không ít khó khăn.

    * Khó khăn:

    – Là một xã dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống kinh tế còn nhiều khó

    khăn . chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập cũng như chất

    lượng học tập của các em.

    – Nhiều gia đình đi làm ăn xa gửi con cho ông bà chăm sóc do ông bà đã già yếu

    nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu.

    – Do tâm lý chung của học sinh tiểu học còn ham chơi nên việc học hành của các

    em nếu không có sự giám sát chặt chẽ của gia đình thì khó có hiệu quả cao.

    – Về cơ sở vật chất của nhà trường: Tuy nhà trường đã có đủ phòng học nhưng

    thiết bị nhà trường còn có nhiều hạn chế.

    – Về đội ngũ giáo viên: Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình giảng dạy song

    còn gặp nhiều khó khăn do trình độ giáo viên còn chưa đồng đều.

    b. Thực trạng của lớp.

    Năm học 2006-2007 tôi được phân công giảng dạy lớp 2a trường tiểu học….

    Lớp 2a do tôi chủ nhiệm và giảng dạy có 24 học sinh. Trong đó:

    Con cán bộ công chức: 1 em.

    Con gia đình nông nghiệp: 23 em.

    Nam: 11 em; nữ: 13 em.

    4

    4

    5

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    + Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều –

    phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lời

    không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán.

    2. Kết quả, hiệu quả của thực trạng ban đầu.

    Tôi đã khảo sát kĩ năng giải toán của 24 học sinh lớp 2a và thu được kết quả

    như sau:

    Sĩ số

    Giải thành thạo

    Kĩ năng giải chậm

    Chưa nắm được cách giải

    24 em

    5 em = 20,8 %

    7 em = 29,2 %

    12 em = 50%

    Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có

    hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnh

    dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy như sau:

    B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    * CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

    1. Họp phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục.

    Chúng ta đều biết học sinh lớp 2 đến trường còn phụ thuộc hoàn toàn vào sự

    quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô. Các em chưa có ý thức tự giác học tập,

    chính vì vậy giáo dục ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém

    phần quan trọng giúp các em học tốt hơn.

    Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của

    nhiều em chưa cao. Để thực hiện tốt cuộc vận động ” Hai không” của ngành giáo

    dục và giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục con cái, tôi đã

    mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp và những

    yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng –

    cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, đặc biệt nhất là đối với các ông bố vào buổi

    tối cố gắng bớt đi một chút thời gian chuyện trò với bạn bè, tắt (vặn nhỏ đài, ti vi)

    dành thời gian nhắc nhở, quan tâm cho các em học tập….Rất mừng là đa số phụ

    5

    5

    6

    7

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi học tập,

    được trao đổi, luyện nói nhiều trong các giờ Tiếng việt giúp các em có vốn từ lưu

    thông; trong các tiết học các em có thể nhận xét và trả lời tự nhiên, nhanh nhẹn mà

    không rụt rè, tự ti. Bên cạnh đó, người giáo viên cần phải chú ý nhiều đến kĩ năng

    đọc cho học sinh: Đọc nhanh, đúng, tốc độ, ngắt nghỉ đúng chỗ giúp học sinh có kĩ

    năng nghe, hiểu được những yêu cầu mà các bài tập nêu ra.

    Tóm lại: Để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, tôi luôn luôn chú

    ý rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các học sinh trong các giờ học Tiếng

    Việt, bởi vì học sinh đọc thông, viết thạo là yếu tố “đòn bẩy” giúp học sinh hiểu rõ

    đề và tìm cách giải toán một cách thành thạo.

    * Theo chương trình SGK mới đến tuần 23 học sinh lớp 1 mới tập giải toán

    có lời văn. Ở lớp 1 yêu cầu học sinh nhìn tranh nêu phép tính, tập nêu tiếp câu hỏi

    để hoàn chỉnh đề toán, tập viết câu lời giải ở dạng đơn giản và chưa yêu cầu lời giải

    hay, chính xác. Trong khi thời gian dành cho cả tiết học là không quá 40 phút, với

    nhiều yêu cầu kiến thức khác nhau nên các em chưa được rèn luyện nhiều. Vì vậy,

    khi lên lớp 2 những tuần đầu khi học đến phần giải toán có lời văn, nhiều em lúng

    túng kể cả một số em có lực học khá. Mặc dù giáo viên đã hướng dẫn các em nêu

    đề toán, tìm hiểu đề và gợi ý nêu miệng lời giải nhưng cách trình bày, sự trau truốt

    lời giải của các em chưa được thành thạo. Hiểu được những thiếu sót đó của các em

    , ở những tiết toán có bài toán giải tôi thường dành nhiều thời gian hơn để hướng

    dẫn kĩ và kết hợp trình bày mẫu nhiều bài giúp các em ghi nhớ và hình thành kĩ

    năng.

    Ví dụ: Sau khi đọc đề toán ở trang 11 SGK Toán 2.

    ” Lớp 2A có 18 học sinh đang tập hát, lớp 2B có 21 học sinh đang tập hát.

    Hỏi cả hai lớp có bao nhiêu học sinh đang tập hát?”.

    – Học sinh tập nêu bằng lời để tóm tắt bài toán:

    Lớp 2A có :

    7

    18 học sinh.

    7

    8

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    Lớp 2B có :

    21 học sinh.

    Hỏi có tất cả :

    ? học sinh.

    – Học sinh nêu miệng câu lời giải:

    Cả hai lớp có tất cả số học sinh đang tập hát là:

    Học sinh nêu miệng phép tính: 18 + 21 = 39 (bạn)

    – Tiếp đó, học sinh được làm quen với việc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời

    sau đó nêu cách giải rồi tự giải. ở dạng bài này, giáo viên cũng cần cho học sinh

    luyện nêu miệng đề toán nhiều lần để các em ghi nhớ một bài toán.

    Ví dụ: Bài tập 2 (trang 25 – SGK toán 2)

    An có:

    11 bưu ảnh.

    Bình nhiều hơn An: 3 bưu ảnh.

    Bình có:

    …bưu ảnh.

    – Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo

    yêu cầu.

    Học sinh: An có 11 bưu ảnh. Bình có số bưu ảnh nhiều hơn số bưu ảnh của An

    là 3 cái. Hỏi Bình có tất cả có bao nhiêu cái bưu ảnh?

    Sau đó cho các em luyện cách trả lời miệng:

    Số bưu ảnh của Bình có là: 11 + 3 = 14 (bưu ảnh)

    Rồi tự trình bày bài giải:

    Bài giải

    Số bưu ảnh của Bình có là:

    11 + 3 = 14 (bưu ảnh)

    Đáp số: 14 bưu ảnh.

    3. Áp dụng qua các tiết dạy.

    Khác với lớp 2 chương trình CCGD, chương trình Toán lớp 2 mới thường

    được cho dưới các dạng sau:

    8

    8

    9

    10

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7 cây

    cam. Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam?

    Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái đã

    cho và cái phải tìm. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi

    gợi ý như:

    + Bài toán cho biết gì? ( Vườn nhà Mai có 17 cây cam)

    + Bài toán còn cho biết gì nữa? (Vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7 cây)

    + Bài toán hỏi gì? (Vườn nhà Hoa có bao nhiêu cây cam)

    + Muốn biết vườn nhà Hoa có mấy cây cam em làm tính gì? (tính trừ)

    + Lấy mấy trừ đi mấy? (17 – 7)

    + 17 – 7 bằng bao nhiêu? ( 17 – 7 = 10 )

    b. Đặt câu lời giải thích hợp.

    Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô cùng

    quan trọng và khó khăn nhất đối với học sinh lớp 2. Chính vì vậy việc hướng dẫn

    học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn lớn đối với người

    dạy. Tuỳ từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cách hướng dẫn sau:

    – Cách 1: (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): Dựa vào câu hỏi của

    bài toán rồi bỏ bớt từ đầu “hỏi” và từ cuối “mấy” rồi thêm từ “là” để có câu lời

    giải: “Vườn nhà Hoa có số cây cam là:”

    – Cách 2: Nêu miệng câu hỏi: “Vườn nhà Hoa có mấy cây cam?” Để học

    sinh trả lời miệng: “Vườn nhà Hoa có số cây cam là:” rồi chèn phép tính vào để

    có cả bước giải (gồm câu hỏi, câu lời giải và phép tính):

    Vườn nhà Hoa có số cây cam là:

    17 – 7 = 10 (cây cam)

    Đáp số: 10 (cây cam).

    Tóm lại: Tuỳ từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các em

    cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp.

    10

    10

    11

    12

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    Bên cạnh việc hướng dẫn cách trình bày như trên, tôi cũng luôn luôn nhắc

    nhở, rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết chữ – viết số đúng mẫu – đẹp. Việc kết hợp

    giữa chữ viết đẹp và cách trình bày đúng cũng là một yếu tố góp phần tạo nên sự

    thành công trong vấn đề giải toán có lời văn của các em.

    Cùng với việc áp dụng các biện pháp ngay từ đầu năm học và áp dụng trực

    tiếp các biện pháp vào bài dạy đầu tiên về giải toán có lời văn, tôi đã cho học sinh

    làm một số dạng bài tập giải toán có lời văn như sau:

    Ví dụ 1: Nam có 6 lá cờ, Hùng có 9 lá cờ. Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu

    lá cờ?

    Không cần hướng dẫn, học sinh lớp tôi thực hiện được ngay cách làm như

    sau:

    Tóm tắt

    Namcó:

    Bài giải

    6 lá cờ.

    Hùng có:

    Cả hai bạn có số lá cờ là:

    9 lá cờ.

    6 + 9 = 15 ( lá cờ)

    Cả hai bạn : … lá cờ?

    Đáp số: 15 lá cờ.

    Ví dụ 2: Hải có 15 hòn bi, Hải cho bạn 6 hòn bi. Hỏi Hải còn lại bao

    nhiêu hòn bi?

    Học sinh lớp tôi thực hiện như sau:

    Tóm tắt

    Hải có:

    15hòn bi.

    Cho bạn:

    6 hòn bi.

    Bài giải

    Hải còn lại số hòn bi là:

    15 – 6 = 9 (hòn bi)

    Còn lại: … hòn bi?

    12

    Đáp số: 9 hòn bi.

    12

    13

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    Tiếp tục tiến hành kiểm tra nhiều kĩ năng giải toán của học sinh với nhiều

    dạng bài khác nhau, tổng hợp kết quả qua chấm chữa bài cho học sinh tôi thu được

    kết quả sau:

    – Số bài giỏi:

    8 bài.

    – Số bài khá:

    9 bài.

    – Số bài trung bình:

    7 bài.

    – Số bài yếu:

    Không có.

    4. Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập.

    Đặc điểm chung của học sinh tiểu học là thích được khen hơn chê, hạn chế chê

    các em trong học tập, rèn luyện . Tuy nhiên, nếu ta không biết kết hợp tâm lý từng

    học sinh mà cứ quá khen sẽ không có tác dụng kích thích. Đối với những em chậm

    tiến bộ, thường rụt rè, tự ti, vì vậy tôi luôn luôn chú ý nhắc nhở, gọi các em trả lời

    hoặc lên bảng làm bài. Chỉ cần các em có một “tiến bộ nhỏ” là tôi tuyên dương

    ngay, để từ đó các em sẽ cố gắng tiến bộ và mạnh dạn, tự tin hơn. Đối với những

    em học khá, giỏi phải có những biểu hiện vượt bậc, có tiến bộ rõ rệt tôi mới

    khen.Chính sự khen, chê đúng lúc, kịp thời và đúng đối tượng học sinh trong lớp đã

    có tác dụng khích lệ học sinh trong học tâp.

    Ngoài ra, việc áp dụng các trò chơi học tập giữa các tiết học cũng là một yếu

    tố không kém phần quan trọng giúp học sinh có niềm hăng say trong học tập, mong

    muốn nhanh đến giờ học và tiếp thu kiến thức nhanh hơn, chắc hơn. Vì chúng ta

    đều biết học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp hai nói riêng có trí thông minh

    khá nhạy bén, sắc sảo, có óc tưởng tượng phong phú. đó là tiền đề tốt cho việc phát

    triển tư duy toán học nhưng các em cũng rất dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt,

    căng thẳng hay quá tải. Hơn nữa cơ thể của các em còn đang trong thời kì phát triển

    hay nói cụ thể hơn là các hệ cơ quan còn chưa hoàn thiện vì thế sức dẻo dai của cơ

    thể còn thấp nên trẻ không thể ngồi lâu trong giờ học cũng như làm một việc gì đó

    13

    13

    14

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    trong một thời gian dài. Vì vậy muốn giờ học có hiệu quả thì đòi hỏi người giáo

    viên phải đổi mới phương pháp dạy học tức là kiểu dạy học :” Lấy học sinh làm

    trung tâm.”, hướng tập trung vào học sinh, trên cơ sở hoạt động của các em. Trong

    mỗi tiết học, tôi thường dành khoảng 2 – 3 phút để cho các em nghỉ giải lao tại chỗ

    bằng cách chơi các trò chơi học tập vừa giúp các em thoải mái sau giờ học căng

    thẳng, vừa giúp các em có phản ứng nhanh nhẹn, ghi nhớ một số nội dung bài đã

    học….

    Tóm lại: Trong quá trình dạy học người giáo viên không chỉ chú ý đến rèn

    luyện kĩ năng, truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải quan tâm chú ý đến

    việc: Khuyến khích học sinh tạo hứng thú trong học tập.

    C. KẾT LUẬN

    1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.

    Nhờ áp dụng, kết hợp các biện pháp trên trong giảng dạy mà tôi đã thu được

    những kết quả ban đầu trong việc dạy học “Giải toán có lời văn” nói riêng và

    trong chất lượng môn Toán nói chung bởi vì “Giải toán có lời văn” là dạng toán

    14

    14

    15

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    khó và mới của chương trình thay sách. Học sinh phải đặt lời giải trước phép tính

    và kết quả của bài toán. Nếu các em nắm chắc được cách giải toán ở lớp hai chắc

    chắn sau này các emhọc lên các lớp trên sẽ có điều kiện tốt hơn ở dạng toán khó

    hơn.

    Trong năm học trước: (2005 – 2006) có những em khi giải toán còn đặt câu

    lời giải như: “Có tất cả bao nhiêu là:” hoặc “Hỏi số gà còn lại là:”…

    Những lỗi đó đến nay không còn nữa, học sinh lớp tôi không những biết cách đặt

    câu lời giải hay, viết phép tính đúng mà còn biết cách trình bày bài giải đúng, đẹp.

    Năm học 2006 – 2007 này tôi được phân công trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy

    lớp 2a. Tổng số học sinh của lớp là 24 em. Có 13 em nữ. Các em phân bố rải rác ở

    các thôn. Ngay từ đầu năm học mới, sau khi nhận lớp, tôi đã thử nghiệm ngay

    những ý tưởng của mình. Những kết quả mà các em đạt được sau những lần thi do

    nhà trường, Phòng GD, Sở GD ra đề đã cho thấy công sức tôi bỏ ra đã có kết quả

    nhất định. Năm học 2006 – 2007 lớp 2a do tôi trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy có

    kết quả như sau: (kết quả tính đến tháng 4).

    Sĩ số

    24 em

    Giải thành thạo

    15 em = 62,5 %

    Kĩ năng giải chậm

    9 em = 37,5 %

    Chưa nắm được cách giải

    0 em = 0%

    Có được kết quả như vậy một phần nhờ tinh thần học tập tích cực, tự giác

    của học sinh, sự quan tâm nhắc nhở của phụ huynh học sinh, bên cạnh đó là các

    biện pháp giáo dục đúng lúc, kịp thời của giáo viên.

    Qua kết quả đã đạt được trên, tôi thấy số học sinh yếu đã không còn, số học

    sinh khá giỏi tăng. So với năm học trước thì kết quả trên thật là một điều đáng

    mừng. Điều đó cho thấy những cố gắng trong đổi mới phương pháp dạy học của tôi

    đã có kết quả khả quan. Những thầy cô giáo trường bạn trong lần thanh tra trường

    khi dự giờ lớp tôi cũng đã công nhận lớp học sôi nổi, nắm kiến thức vững chắc. Đó

    chính là động lực để tôi tiếp tục theo đuổi ý tưởng của mình.

    15

    15

    16

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    Với kết quả này, chắc chắn khi các em học lên các lớp trên, các em sẽ vẫn tiếp

    tục phát huy hơn nữa với những bài toán có lời văn yêu cầu ở mức độ cao hơn.

    II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

    Qua những vướng mắc thực tế, cùng với lòng say mê, nhiệt tình nghiên cứu

    và áp dụng thực tế vào lớp học do tôi chủ nhiệm đã giúp tôi hoàn thành ý tưởng của

    mình. Mỗi lần thực hiện, vận dụng vào thực tế lớp học tôi lại rút ra được một vài

    kinh nghiệm sau:

    – Người giáo viên phải thực sự có lòng nhiệt tình, say mê với nghề nghiệp,

    với lương tâm trách nhiệm của người thầy.

    – Trong quá trình giảng dạy phải luôn nắm bắt, đúc rút những vướng mắc,

    khó khăn thực tế ở lớp mình dạy, để từ đó nghiên cứu tìm ra hướng giải quyết tốt

    nhất.

    – Mỗi biện pháp giáo dục của giáo viên phải được thực hiện đúng thời điểm,

    đúng nội dung ở từng bài học.

    – Không nên quá phụ thuộc vào sách giáo viên, vì sách giáo viên chỉ là tài

    liệu hướng dẫn – tham khảo, không thể áp dụng đại trà với mọi đối tượng học sinh

    trong lớp được.

    – Cần quan tâm, động viên, khuyến khích, giúp đỡ các em vượt qua mọi

    khó khăn để học tập tốt hơn.

    – Trong quá trình hướng dẫn giải toán có lời văn ( ở lớp 2 ) giáo viên cần

    lưu ý hơn nữa tới việc hướng dẫn cho các em cách đặt câu lời giải cho hay, cho xúc

    tích. Vì việc thực hiện phép tính các em đều có thể nêu được ngay sau khi đọc xong

    đề toán.

    – Để giúp học sinh có kĩ năng giải toán thành thạo, người giáo viên cần chú

    ý nhiều đến kĩ năng: nghe – đọc – nói – viết trong môn Tiếng việt. Luyện kĩ năng

    hỏi – đáp giúp các em có vốn từ ngữ lưu thông hơn, giúp các em dễ dàng đặt câu lời

    giải cho bài toán.

    16

    16

    17

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    – Phải cố gắng khắc phục các sai lầm của các em trong mỗi bài, mỗi phần,

    mỗi dạng toán, tránh để các sai lầm dồn lại sẽ khó giải quyết.

    – Điều rất quan trọng nữa là sự mềm mỏng, kiên trì uốn nắn học sinh của

    giáo viên trong mọi lúc của giờ học.

    – Trong từng tiết học, người giáo viên cũng cần tìm ra nhiều biện pháp,

    nhiều hình thức hoạt động học tập như: Làm việc chung với lớp, làm việc cá nhân,

    làm việc theo nhóm… và tập trung chú ý tới cả 3 đối tượng để giúp các em học tốt

    hơn.

    – Người giáo viên cần phải luôn luôn có ý thức học hỏi và trau dồi kiến

    thức để đáp ứng với yêu cầu ngày một đổi mới của xã hội. Muốn thế, người giáo

    viên phải giành nhiều thời gian để nghiên cứu, tự tìm tòi trong các tài liệu có liên

    quan, tham gia tích cực vào các lớp nghiệp vụ do ngành, trường tổ chức. Điều quan

    trọng nhất trong dạy học là: Lòng yêu nghề và trình độ chuyên môn của mỗi giáo

    viên.

    – Nếu được thực hiện đồng bộ, đúng lúc, kịp thời các biện pháp trên, tôi tin

    rằng chất lượng môn toán nói chung và phần giải toán có lời văn nói riêng của các

    em lớp 2 sẽ có kết quả nhất định và là nền móng vững chắc để các em học tốt hơn ở

    các lớp sau.

    – Với một vài kinh nghiệm này, tôi mong muốn được đóng góp một phhần

    nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung và với dạng bài “Giải toán có

    lời văn” trong môn Toán 2 nói riêng.

    Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của hội đồng khoa

    học, của các đồng nghiệp để tôi hoàn thiện mình hơn góp phần nâng cao chất lượng

    dạy và học.

    Tháng 4 năm 2007

    Người viết

    17

    17

    18

    Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn

    18

    18

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Giải Bài Tập Đề Xi Mét Trang 7 Sgk Toán 2
  • Giáo Án Toán Lớp 2 Chương 1 Bài 3: Đề Xi Mét
  • Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 2 Tập 1 Tuần 6
  • Sách Giải Vở Bài Tập Toán Lớp 4 Trang 35 Tập 2 Đúng Nhất Baocongai.com
  • Tuần 23. Đáp Lời Khẳng Định. Viết Nội Quy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Lớp 5 Thhoasonahoabinh2Edu Doc
  • “nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5”
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5
  • Chuyên Đề Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3
  • Chuyên Đề Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4&5
  • Hình học-chu vi, diện tích, thể tích của một hình. 9. Số đo thời gian-Toán chuyển động đều. 2/ Cơ sở thực tiễn: Đề bài của bài toán có lời văn bao giờ cũng có hai phần: Phần đã cho hay còn gọi là giả thiết của bài toán. Phần phải tìm hay còn gọi là kết luận của bài toán. - Ngoài ra trong đề toán có nêu mối quan hệ giữa phần đã cho và phần phải tìm hay thực chất là các mối quan hệ tương quan phụ thuộc vào giả thiết và kết luận của bài toán. Quy trình giải toán có lời văn thường thông qua các bước sau: -Nghiên cứu kĩ đàu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận bài toán, suy nghĩ về ý nghĩa của bài toán, nội dung bài toán, đặc biệt là chú ý đến câu hỏi của bài toán. Chớ vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề toán. -Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và diễn đat nội dung bài toán bàng ngôn ngữ hoặc tóm tắt điều kiện bài toán, hoặc minh hoạ bằng sơ đồ hình vẽ. -Lập kế hoạch giải toán: Học sinh phải suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi của bài toán cần thực hiện phép tính gì? Suy nghĩ xem từ số đã cho và điều kiện của bài toán có thể biết gì? Có thể làm phép tính gì? Phép tính đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không? Trên các cơ sở đó, suy nghĩ để thiết lập trình tự giải toán. -Thực hiện phép tính theo trình tự kế hoạch đã thiết lập để tìm đáp số. Mỗi khi thực hiện phép tính càn kiểm tra xem đã tính đúng chưa? Phép tính được thực hiện có dựa trên cơ sở đúng đắn không? Giải xong bài toán, khi cần thiết, cần thử lại xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các đièu kiện của bài toán không? Trong một số trường hợp, giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm xem có cách giải khác gọn hơn không? Ví dụ 1: Thùng to có 26 lít dầu, thùng bé có 18 lít dầu. Dầu được chứa vào các chai như nhau, mỗi chai có 0,8 lít. Hỏi có tất cả bao nhiêu chai dầu? Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện bài toán trên bằng cách dùng phương pháp vấn đáp, kết hợp với minh hoạ bằng tóm tắt đề toán. +Phân tích nội dung đề toán: Giáo viên dùng hai câu hỏi: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Để học sinh hiểu nội dung bài: Thùng to có 26 lít dầu. Thùng bé có 18 lít dầu. Mỗi chai chứa 0,8 lít dầu. Hỏi có tất cả có bao nhiêu chai dầu? +Tóm tắt bài toán : Theo những câu trả lời của học sinh, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt như sau: Thùng to: 26 l Thùng bé:18 l Có :...... chai dầu? Tóm tắt trên chính là chỗ dựa cho học sinh tự tìm ra lời và phép tính tương ứng. +Thiết lập trình tự giải: Giáo viên đạt câu hỏi "Muốn biết có bao nhiêu chai dầu, ta phải làm thế nào? " Học sinh trả lời: "Trước hết ta phải tìm tổng số lít dầu có ở hai thùng, sau đó mới tìm tổng số chai đựng dầu". Bài giải Tổng số lít dầu ở hai thùng là: 26 + 18 =44 (l) Số chai đựng dầu là: 44 : 0,8 = 55 (chai ) Đáp số: 55 chai II. CÁC PHƯƠNG PHÁP DÙNG ĐỂ GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN 1/ Phương pháp trực quan: Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi còn mang tính cụ thể, gắn với các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức của môn toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao. Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ sung vốn hiểu biết, phát triển tư duy trừu tượng và vốn hiểu biết. Đối với học sinh lớp 5, việc sử dụng đồ dùng trực quan ít hơn các lớp trước và bớt dần đi việc đồ vật thật. Ví dụ: Khi dạy giải toán ở lớp 5, giáo viên có thể cho học sinh quan sát mô hình hoặc hình vẽ, sau đó lập tóm tắt đề bài rồi mới đến bước chọn phép tính. 2/Phương pháp gợi mở-vấn đáp: Đây là phương pháp cần thiết và thích hợp với học sinh ở tiểu học, rèn luyện cho học cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh. Để sử dụng tốt phương pháp này, giáo viên cần lựa chon hệ thống câu hỏi chính xác và rõ ràng, nhờ thế mà học sinh có thể nắm được ngay nội dung kiến thức từ đầu và giúp các em dễ dàng trả lời các câu hỏi. 3/ Phương pháp thực hành và luyện tập: Sử dụng phương pháp này thực hành luyện tập kiến thức, kĩ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp (chủ yếu ở các tiết luyện tập). Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: Gợi mở, vấn đáp và giảng giải minh hoạ. 4/ Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng: Giáo viên sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng đã cho trong bài và mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng đó. Giáo viên phải chọn độ dài đoạn thẳng một cách thích hợp để học sinh dẽ dàng quan sát và thấy được mối liên hệ phụ giữa các đại lượng tạo ra hình ảnh cụ thể để giúp học sinh suy nghĩ, tìm tòi giải toán. 5/ Phương pháp giảng giải-minh hoạ: Khi cần giảng giải- minh hoạ, giáo viên cần nói gọn, rõ và kết hợp với gợi mở-vấn đáp. Giáo viên nên phối hợp giảng giải với hoạt động thực hành của học sinh (Ví dụ: Bằng hình vẽ, mô hình, vật thật...). Để học sinh phối hợp nghe, nhìn và làm, nên hạn chế sử dụng phương pháp này vì sẽ làm hạn chế khả năng tư duy lôgic và suy nghĩ sáng tạo của học sinh. III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI CÁC BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 5 Muốn phân tích được tình huống, lựa chọn phép tính thích hợp, các em cần nhận thức được: Cái gì đã cho, cái gì cần tìm, mối quan hệ với cái đã cho và cái phải tìm. Trong bước đầu giải toán việc nhận thức và việc lựa chọn phép tinh với các em là một việc khó. Để giúp các em khắc phục khó khăn này, cần dựa vào hoạt động cụ thể của các em với vật thật, với mô hình, dựa vào hình vẽ, các sơ đồ toán học...Nhằm làm cho các em hiểu khái niệm "gấp" với phép nhân, khái niệm "một phần..." với phép chia trong tương quan giũa các mối quan hệ với bài toán. Trong một bài toán, câu hỏi có một chức năng quan trọng vì việc lựa chọn phép tính thích hợp được quy định không chỉ bởi các dữ kiện mà còn bởi các câu hỏi. Với cùng các dữ kiện như nhau có thể dặt các câu hỏi khác nhau, do đó việc lựa chọn phép tính cũng khác nhau. Việc thấu hiểu câu hỏi của bài toán là điều kiện căn bản để giải đúng các bài toán đó. Những trẻ em trong giai đoạn đầu khi mới giải toán chưa nhận thức được đầy đủ chức năng của câu hỏi trong bài toán. Để rèn luyện cho các em suy luận đúng, cần giúp các em nhận thức được chức năng quan trọng của câu hỏi trong bài toán. Câu hỏi của bài toán, đôi khi nêu cho các em bài toán vui không giải được. Chẳng hạn: "Trên cành cây có 10 con chim. Người thợ săn bắn rơi 2 con chim. Hỏi trong lồng còn mấy con chim?". Có em sẽ nhầm và trả lời là 8 con chim. Lúc đó giáo viên sẽ giải thích để học sinh nhận ra cái sai trong câu hỏi của bài toán. Đối với bài toán có lời văn ở lớp 5, chủ yếu là các bài toán hợp.Giải các bài toán hợp cũng có nghĩa là giải quyết các bài toán đơn. Mặt khác các dạng toán đều đã được học ở các lớp trước bao gồm hai nhóm chính như sau: Nhóm 1: Các bài toán hợp mà quá trình giải không theo một phương pháp thống nhất cho các bài toán đó. Nhóm 2: Các bài toán điển hình là các bài toán mà trong quá trình giải có phương pháp riêng cho từng dạng bài toán. Trong chương trình toán lớp 5 có những dạng toán điển hình sau: -Tìm số trung bình cộng. -Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đo. -Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó. -Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó. Người giáo viên phải nắm vững các dạng toán để có cách giải phù hợp. Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp. hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với hình thành kĩ năng tính. Vì bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều khái niệm, quan hệ toán học. Giải toán không chỉ là nhớ mẫu để rồi áp dụng, mà đòi hỏi phải nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm ý nghĩa của phép tính, đòi hỏi khả năng suy nghĩ độc lập của học sinh, đòi hỏi phải biết tính đúng. Các bước để giải một bài toán có lời văn ở tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng đã được đề cập ở một số cách về phương pháp giải toán ở bậc tiểu học. Ở đây tôi rút ra một số kinh nghiệm hướng dẫn: Phần đạt toán có lời văn ở lớp 5. Ở lớp 5, việc học phân số, học số thập phân, học về các đơn vị đo đại lượng...Cũng được kết hợp học các phép tính, học giải toán được kết hợp một cách hữu cơ để có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. Việc dạy cho học sinh nắm được các phương pháp chung để giải toán được chú trọng ngay từ khi các em giải bài toán đầu tiên ở bậc tiểu học và sau này vẫn được thường xuyên quan tâm. Các em luôn được rèn luyện trong việc tìm hiểu đề toán, trong viẹc phân tích cái gì đã cho, cái gì phải tìm trong việc suy nghĩ tìm ra cách giải và trong việc thực hiện cách giải. Đặc biệt các em thường xuyên sử dụng việc tóm tắt bài toán bằng sơ đồ hình vẽ. Ví dụ 1: Bài toán về đại lượng tỉ lệ thuận. Một ô tô cứ một 100 km thì hết 12,5 l xăng. Hỏi ô tô đi quãng đường dài 120 km thì cần bao nhiêu lít xăng? Bài giải Số lít xăng cần để đi 1 km là: 12,5 : 100 = 0,125 (l) Số lít ô tô cần để đi quãng đường 60 km là: 0,125 x 120 = 15 (l) Đáp số : 15 lít xăng Ví dụ 2: Toán chuyển động đều. Một người đi hết quãng đường dài 11,52 km với vận tốc 4,5 km/giờ. Hỏi người đó đã đi hết bao nhiêu giờ và bao nhiêu phút? Bài giải Thời gian ô tô đi hết quãng đường là: 11,52 : 4,5 = 2,5 (giờ) = 2 giờ 30 phút. Đáp số: 2 giờ 30 phút. Ví dụ 3: Bài toán về tỉ lệ nghịch. Một đơn vị bộ đội có 45 người đã chuẩn gạo đủ ăn trong 15 ngày. Nhưng sau 5 ngày đơn vị đó nhận tiếp thêm 5 người nữa. Hãy tính xem số gạo còn lại đủ cho đơn vị ăn bao nhiêu ngày nữa, biết rằng các xuất ăn đều như nhau. Bài giải Số gạo còn lại đủ cho 45 người ăn trong số ngày là: 15 - 5 = 10 (ngày) Số người của đơn vị sau khi tăng là: 45 + 5 = 50 (người) Vì số gạo còn lại đủ cho 45 người ăn trong 10 ngày, nên nếu 1 người ăn số gạo đó thì sẽ đủ ăn trong số ngày là: 10 x 45 = 450 (ngày) Vậy 50 người ăn số gạo còn lại trong số ngày là: 450 : 50 = 9 (ngày) Đáp số: 9 ngày Ví dụ 4: Bài toán về nhân số thập phân với số thập phân. Một khu vườn hình chữ nhật có chiều dài 27,18 m, chiều rộng 9,4 m. Tính chu vi và diện tích khu vườn đó? Tóm tắt: Chiều dài: 27,18 m Chiều rộng: 9,4 m Chu vi: ? m; diện tích: ? m2 Bài giải Chu vi của khu vườn là: (27,18 + 9,4) x 2 = 72,96 (m) Diện tích khu vườn là: 27,18 x 9,4 = 255,492 (m2) Đáp số: Chu vi: 72,96 m Diện tích: 255,492 m2 Ví dụ 5: Bài toán về tỉ số phần trăm. Ngày thường mua 5 quả bóng bay hết 10.000 đồng . Cũng với số tền đó trong ngày lễ chỉ mua được 4 quả bóng bay như thế. Hỏi so với ngày thường thì giá bóng bay trong ngày lễ tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm? Bài giải Giá tiền 1 quả bóng bay ngày thường là: 10000 : 5 = 2000 (đồng) Giá tiền 1 quả bóng bay trong ngày lễ là: 10000 : 4 = 2500 (đồng) Tỉ số phần trăm của giá bóng bay trong ngày lễ so với ngày thường là: 2500 : 2000 = 1,25 = 125% Coi giá bóng bay trong ngày thường là 100% thì giá bóng bay trong ngày lễ hơn ngày thường là: 125% - 100% = 25% Đáp số: 25% Đối với các bài toán có lời văn như trên, giáo viên nên khuyến khích học sinh tự nêu ra các giả thiết đã biết, cái cần phải tìm cách tóm tắt bài toán và tìm cách giải. Các phép tính giải chỉ là khâu thứ yếu mang tính kĩ thuật. Một số bài nâng cao dành cho học sinh khá giỏi: Đối với những đối tượng học sinh đã giải được và giải thành thạo các bài toán đơn cơ bản, thì việc đưa ra hệ thống bài tập nâng cao là rất quan trọng và cần thiết để cho học sinh có điều kiện phát huy năng lực trí tuệ của mình, vượt xa khỏi tư duy cụ thể mang tính chất ghi nhớ và áp dụng một cách máy móc trong công thức. Ví dụ 1: Nếu Kiên và Hiền cùng làm một công việc thì hoàn thành công việc trong 10 ngày. Sau 7 ngày cùng làm thì Kiên nghỉ việc , còn Hiền phải làm nốt phần việc còn lại trong 9 ngày nữa . Hãy tính xem nếu mỗi người làm riêng thì sau bao nhiêu ngày sẽ hoàn thành công việc đó? Bài giải Cách 1: Kiên và Hiền cùng làm trong 1 ngày được công việc. Kiên và Hiền cùng làm sau 7 ngày được: (công việc) Phần việc còn lại do Hiền làm là: (công việc) Mỗi ngày Hiền làm được là: (công việc) Số ngày Hiền làm một mình để xong công việc là: (ngày) Mỗi ngày Kiên làm được là: (công việc) Số ngày Kiên làm một mình hết công việc là: (ngày) Đáp số: Hiền: 30 ngày Kiên: 15 ngày Cách 2: Coi công việc là 10 phần bằng nhau thì Kiên và Hiền cùng làm được 7 phần , nên còn lại 3 phần đó (10-7=3) là do Hiền làm tiếp trong 9 ngày nữa. 3 phần làm trong 9 ngày. 1 phần làm trong: 9 : 3 = 3 (ngày) 10 phần làm trong: 3 x 10 = 30 (ngày) Vậy Hiền làm riêng thì sẽ xong công việc: Giả sử Hiền chỉ làm tiếp trong 3 ngày nữa thì mới thực hiện thêm 1 phần việc, còn 2 phần việc lẽ ra Kiên phải làm trong 3 ngày. Như thế Kiên phải làm nhanh gấp đôi Hiền. Vì vậy số ngày Kiên làm riêng để làm xong công việc là: 30 : 2 = 15 (ngày) Đáp số: Hiền: 30 ngày Kiên: 15 ngày Ví dụ 2: Có một số lít dầu và một số can. Nếu mỗi can chứa 5 l dầu thì còn thừa 5 l. Nếu mỗi can chứa 6 l dầu thì có 1 can không chứa dầu. Hỏi có bao nhiêu can, bao nhiêu lít dầu? Bài giải Nếu mỗi can chứa 5 l dầu thì còn thừa 5 l. Nếu mỗi can chứa 6 l dầu thì có một can không chứa dầu, Nghĩa là thêm 6 l dầu nữa thì không còn thừa một can nào nữa. Do đó số dầu để chứa đủ mỗi can 6 l sẽ nhiều hơn số dầu để chứa mỗi can 5 l là: 5 + 6 = 11 (l) 6 l dầu nhiều hơn 5 l dầu là: 6 - 5 = 1 (l) Số can có là: 11 : 1 = 11 (can) Có 11 can, mỗi can chứa 5 l còn thừa 5 thì số dầu có là: 5 x 11 + 5 = 60 (l) Đáp số: 11 can 60 l dầu Ví dụ 3: Lớp 5A tham gia học may, ngày thứ nhất có 1/6 số học sinh của lớp và 2 em, ngày thứ hai có 1/4 số học sinh còn lại và 1 em tham gia, ngày thứ ba có 2/5 số học sinh còn lại sau hai ngày và 3 em, ngày thứ tư có 1/3 số còn lại và 1 em tham gia. Cuối cùng còn lại 5 em chưa tham gia. Hỏi lớp 5A có bao nhiêu học sinh? Tóm tắt: ? em Số học sinh: Ngày 1: số HS và 1 em Ngày 2: số HS còn lại và 1 em Ngày 3: số HS còn lại và 3 em Ngày 4: số HS còn lại và 1 em 5 em Bài giải Số học sinh còn lại sau khi tham gia ngày thứ ba là: (5 + 1) : 2 x 3 = 9 (em) Số học sinh còn lại sau ngày thứ hai là: (9 + 3 ) : 3 x 5 = 20 (em) Số học sinh còn lại sau ngày thứ nhất là: (20 + 1) :3 x 4 = 28 (em) Số học sinh lớp 5A là: (28 +2 ) : 5 x 6 = 36 (em) Đáp số: 36 em * PHẦN THỨ BA KẾT QUẢ ÁP DỤNG NĂM HỌC 2012-2013 Qua một thời gian nghiên cứu đề ra một số biện pháp giải toán có lời văn ở lớp 5, tôi đã mạnh dạn tổ chức chuyên đề này về phương pháp, về cách tổ chức giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5A của tôi, trong năm học: 2012-2013. Kết quả đạt được cụ thể như sau: Thời gian kiểm tra Tổng số HS Kết quả Giỏi Khá TB SL % SL % SL % Giữa kì I 30 10 33,3 15 50,0 5 16,7 Cuối kì I 30 15 50,0 12 40,0 3 10,0 Giữa kì II 30 18 60,0 12 40.0 Cuối năm 30 20 66.7 10 33.3 Từ những kết quả thống kê nêu trên, tôi thấy dạy giải toán có lời văn ở lớp 5 không chỉ những giúp cho học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức đã học, mà còn giúp cho các em phát triển năng lực tư duy, óc sáng tạo, tính kiên trì trong học toán và vận dụng thực hành vào thực tiễn trong cuộc sống. *PHẦN THỨ TƯ KẾT LUẬN-ĐỀ XUẤT I KẾT LUẬN Hướng dẫn và giúp học sinh giải toán có lời văn nhằm giúp các em phát triển tư duy trí tuệ, tư duy phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, rèn luyện tốt phương pháp suy luận lôgic. Bên cạnh đó, đây là là một dạng toán rất gần gũi với đời sống thực tế với học sinh. Do vậy, có thể nói đây là một nhiệm vụ của mỗi người giáo viên đứng lớp. Việc giảng dạy toán có lời văn một cách hiệu quả giúp các em trở thành những con người linh hoạt, sáng tạo, làm chủ trong mọi lĩnh vực và trong cuộc sống thực tế hằng ngày. Những kết quả mà chúng tôi đã thu được trong quá trình nghiên cứu không phải là cái mới so với kiến thức chung về môn toán ở bạc tiểu học song lại là cái mới đối với bản thân tôi. Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã phát hiện và rút ra nhiều điều lý thú về nội dung và phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở bậc tiểu học. Tôi tự cảm thấy mình được bồi dưỡng thêm lòng kiên trì , nhẫn nại, sự ham muốn, lòng say sưa với nghiên cứu tìm tòi trong công việc dạy học, nhằm đem lại sự tươi sáng cho học sinh và niềm đam mê cho chính bản thân. Tuy nhiên, đề tài này của tôi đang trong giai đoạn đầu nghiên cứu và áp dụng trong lĩnh vực khoa học nên không tránh khỏi những khiếm khuyết. Tôi mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo Hội đồng khoa học các cấp , các bạn đồng nghiệp và những ai quan quan tâm đến vấn đề: "Giải toán có lời văn" cho học sinh ở bậc tiểu học nói chung, và "Giải toán có lời văn" ở lớp 5 nói riêng. II MỘT SỐ ĐỀ XUẤT Qua thực tế giảng dạy môn toán ở trường tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng. Tôi thấy người giáo viên phải luôn luôn tìm tòi học hỏi, trau rồi kinh nghiệm để nâng cao trình độ nghiệp vụ. Từ kinh nghiệm thực tế trong những năm giảng dạy, để giúp học sinh thích học và giải toán có lời văn, tôi kiến nghị với các nhà soạn sách giáo khoa hãy lựa chọn, sắp xếp hệ thống các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để các em có thể vận dụng tốt các kiến thức đã học. Đối với giáo viên ở mỗi dạng toán cần hướng dẫn học sinh nhận dạng bằng nhiều cách: đọc, nghiên cứu đề, phân tích bằng nhiều phương pháp (mô hình, sơ đồ đoạn thẳng, suy luận...) để học sinh dễ hiểu, dễ nắm bắt bài hơn. Không dừng lại ở kết quả ban đầu ( giải đúng bài toán ) mà nên có yêu cầu cao hơn đối với học sinh. Ví dụ: Như yêu cầu học sinh ra một đề toán tương tự hoặc tìm hiểu nhiều lời giải khác nhau... Giáo viên phải luôn luôn đổi mới phương pháp giạy bằng nhiều hình thức như: trò chơi, đố vui...phù hợp với đối tượng học sinh của mình: "Lấy học sinh để hướng vào hoạt động học, người thầy là người hướng dẫn tổ chức, học sinh nhận thức chủ động trong việc giải toán" Trong giảng dạy giáo vien cần chú ý phát triển tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp, khả năng suy luận logic, giúp các em nắm chắc kiến thức cụ thể.Với bài toán có lời văn, đó là cách giải và cách trình bầy lời giải, sử dụng tốt các phương pháp đã nêu ở trên. Không dừng lại ở kết quả ban đầu (giải đúng bài toán) mà nên có yêu cầu cao hơn với học sinh. Ví dụ: yêu cầu một học sinh ra một đề toán tương tự hoặc tìm nhiều lời giải khác nhau... Trong khi giải phải yêu cầu học sinh đặt câu hỏi: "Làm phép tính đó để làm gì?" Từ đó có hướng giải đúng, chính xác. Sau mỗi bài toán, học sinh phải biết xem xét lại kết quả của mình làm để giúp các em tự tin hơn khi giải quyết một vấn đề nào đó. Tôi xin chân thành cám ơn! Long Sơn, ngày 20 tháng 5 năm 2013 Người thực hiện Nguyễn Văn Quang MỤC LỤC NỘI DUNG Trang Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Phần thứ hai: NỘI DUNG 4 I. Cơ sở khoa học 4 1. Cơ sở lý luận 4 2. Cơ sở thực tiễn 5 II. Các phương pháp dùng để giải toán có lời văn 8 1. Phương pháp trực quan 8 2. Phương pháp gợi mở - vấn đáp 8 3. Phương pháp thực hành và luyện tập 8 4. Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng 8 5. Phương pháp giảng giải minh họa 9 III. Một số biện pháp để nâng cao chất lượng giải toán 9 có lời văn ở lớp 5 9 Phần thứ ba: KẾT QUẢ ÁP DỤNG NĂM HỌC 2010-2011 17 Phần thứ tư: KẾT LUẬN-ĐỀ XUẤT 18 I. Kết luận 18 II. Đề xuất 19 HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD&ĐT SƠN ĐỘNG XÉT DUYỆT ...

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5
  • Luận Văn Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Tóm Tắt Và Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Tóm Tắt Và Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4
  • Tài Liệu Skkn Hướng Dẫn Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100